Doanh nghiệp viễn thông phải báo cáo đầy đủ chi phí và doanh thu
Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định 295/2025/NĐ-CP quy định trách nhiệm cụ thể cho doanh nghiệp viễn thông trong hoạt động công ích, buộc doanh nghiệp đảm bảo tính chính xác số liệu và công khai đầy đủ thông tin.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến về Dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 295/2025/NĐ-CP về hoạt động viễn thông công ích. Dự thảo quy định chi tiết về trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông, đặc biệt nhấn mạnh việc đảm bảo tính chính xác trong mọi số liệu báo cáo.

Viettel giữ vai trò doanh nghiệp lớn nhất ngành Viễn thông Việt Nam
Theo Điều 4 khoản 2c của dự thảo, doanh nghiệp viễn thông khi đề xuất đặt hàng phải nộp văn bản bao gồm số liệu về địa bàn, khu vực cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập, số lượng công trình viễn thông và đường truyền dẫn. Doanh nghiệp viễn thông chịu trách nhiệm về tính chính xác số liệu báo cáo. Quy định tương tự xuất hiện tại Điều 5 khoản 2c đối với phương thức giao nhiệm vụ.
Dự thảo sẽ thay đổi cách quản lý hoạt động viễn thông công ích, các doanh nghiệp không còn có thể đơn giản gửi số liệu sơ sài hay thiếu căn cứ. Doanh nghiệp phải tự đảm bảo từng con số đều chính xác, có thể kiểm chứng và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai sót.
Chi phí và doanh thu phải báo cáo đầy đủ
Dự thảo Thông tư yêu cầu doanh nghiệp báo cáo chi tiết về chi phí thuê trong hoạt động viễn thông công ích theo Điều 6 khoản 1. Doanh nghiệp có chi phí thuê và đề nghị nhà nước hỗ trợ bù đắp chi phí phải báo cáo cụ thể từng hoạt động thuê và chi phí thuê.
Về doanh thu phát sinh, Điều 7 khoản 1 ghi rõ: doanh nghiệp đề nghị được nhà nước hỗ trợ bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập theo phương thức giao nhiệm vụ hay đặt hàng phải báo cáo đầy đủ doanh thu phát sinh. Việc xác định doanh thu phát sinh theo phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ tuân theo quy định tại khoản 7 Điều 19 của Nghị định số 295/2025/NĐ-CP.
Theo khoản 3 Điều 6, trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập theo phương thức đặt hàng hay giao nhiệm vụ có chi phí thuê, doanh nghiệp phải báo cáo và thuyết minh cụ thể danh mục đơn vị cho thuê, hợp đồng thuê, giá thuê, chi phí thuê và phân bổ chi phí thuê cho hoạt động viễn thông công ích.
Điểm g khoản 6 Điều 4 quy định việc thực hiện đo và báo cáo kết quả đo tốc độ mạng internet của doanh nghiệp khi báo cáo, đề nghị nghiệm thu kết quả thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn thực hiện chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của Bộ Khoa học và Công nghệ.

NPT kích hoạt trạng thái sẵn sàng ứng phó với cơn bão Kalmaegi
Đây là yêu cầu mới giúp kiểm soát chất lượng dịch vụ thực tế. Doanh nghiệp vừa phải cam kết cung cấp dịch vụ với tốc độ nhất định, vừa phải chứng minh bằng kết quả đo kiểm định cụ thể, quy định sẽ bảo vệ quyền lợi người dùng và đảm bảo tiền nhà nước hỗ trợ đạt hiệu quả đúng mục tiêu.
Điểm h khoản 6 Điều 4 quy định Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam thực hiện công khai thông tin kết quả thực hiện hợp đồng đặt hàng, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định tại điểm k khoản 6 Điều 7 của Nghị định số 295/2025/NĐ-CP. Nội dung công khai bao gồm: tên doanh nghiệp được đặt hàng, danh mục công trình viễn thông tại khu vực khó khăn được phổ cập dịch vụ viễn thông, thời gian được hỗ trợ, kinh phí được nhà nước hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập đối với từng loại dịch vụ.
Điều tương tự áp dụng cho phương thức giao nhiệm vụ tại khoản 8 Điều 11 và khoản 5 Điều 14. Việc công khai này tạo áp lực minh bạch lên doanh nghiệp. Mọi thông tin về hợp đồng, kinh phí hỗ trợ đều được đưa ra ánh sáng, giúp xã hội giám sát và ngăn chặn lãng phí, thất thoát.
Trách nhiệm hướng dẫn đối tượng được hỗ trợ
Điều 24 khoản 2 của dự thảo nêu rõ: doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm triển khai, hướng dẫn đối tượng được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích theo hướng dẫn tại Thông tư này và hướng dẫn thực hiện Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Điều đó cho thấy doanh nghiệp không dừng lại ở việc cung cấp cơ sở hạ tầng. Các doanh nghiệp phải đi sâu vào việc đảm bảo người dân thực sự tiếp cận và sử dụng được các dịch vụ viễn thông công ích, đặc biệt là các đối tượng ở vùng khó khăn, ít có điều kiện tiếp cận công nghệ.
Theo Điều 8 khoản 2a, doanh nghiệp viễn thông căn cứ hướng dẫn thực hiện chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp danh sách đối tượng đang có địa chỉ thường trú trên địa bàn dự kiến được hỗ trợ. Doanh nghiệp viễn thông căn cứ nhu cầu của đối tượng được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông phổ cập, lập và tổng hợp danh sách đối tượng đủ điều kiện được hỗ trợ gửi cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương để xác nhận đối tượng đủ điều kiện được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông phổ cập.
Quy trình thực hiện đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, nắm rõ đối tượng thụ hưởng và đảm bảo không bỏ sót những người đủ điều kiện nhận hỗ trợ.
Hồ sơ quyết toán chương trình viễn thông công ích
Điều 23 khoản 1 quy định Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam hoặc doanh nghiệp được giao nhiệm vụ gửi 01 bộ hồ sơ đến Bộ Khoa học và Công nghệ để trình đề nghị thẩm tra, phê duyệt quyết toán. Hồ sơ bao gồm: phiếu trình hay văn bản đề nghị phê duyệt quyết toán bản chính, báo cáo quyết toán bản chính, báo cáo Kiểm toán độc lập bản chính (nếu có), các quyết định phê duyệt kế hoạch, dự toán, các văn bản pháp lý khác có liên quan bản chính hoặc bản sao y bản chính.
Đặc biệt, hồ sơ chi tiết từng hợp đồng gồm: hợp đồng và các phụ lục hợp đồng, các biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo giai đoạn thanh toán, biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành toàn bộ hợp đồng, biên bản thanh lý hợp đồng đối với trường hợp đã đủ điều kiện thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về hợp đồng, hóa đơn và chứng từ chuyển tiền.
Quy trình quyết toán được quy định trong Dự thro buộc doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng từ, sẵn sàng giải trình về từng khoản chi.
Những quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong dự thảo Thông tư thể hiện quyết tâm của cơ quan quản lý nhằm minh bạch hoạt động viễn thông công ích, đảm bảo mỗi đồng ngân sách nhà nước hỗ trợ đều được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và phục vụ thực sự cho người dân vùng khó khăn.
