Đưa công nghệ về đồng ruộng: Nông dân cần gì để bứt phá?

09:56, 14/10/2026

Từ ứng dụng giống mới, cơ giới hóa sản xuất đến sử dụng nền tảng số trong quảng bá, tiêu thụ nông sản, khoa học công nghệ đang mở ra nhiều cơ hội để nông dân Thanh Hóa đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất và giá trị nông sản. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả trên đồng ruộng, người nông dân không chỉ cần vốn đầu tư mà còn phải có kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế…

Ông Vũ Tiến Dũng, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa

Ông Vũ Tiến Dũng, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa

Sau 40 năm Đổi mới, làm thế nào để đưa khoa học công nghệ đến gần hơn với nông dân, tháo gỡ những rào cản trong quá trình ứng dụng và tạo động lực phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững? Phóng viên VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Tiến Dũng, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, về vấn đề này.

Thưa ông, nhìn lại 40 năm Đổi mới, phương thức sản xuất của nông dân Thanh Hóa đã có những thay đổi nổi bật nào, đặc biệt trong việc ứng dụng khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp?

Ông Vũ Tiến Dũng: Sau 40 năm Đổi mới, nông nghiệp Thanh Hóa đã có những chuyển biến sâu sắc. Từ phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, quy mô nhỏ lẻ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, ngày càng nhiều nông dân chủ động ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, cơ giới hóa, tổ chức sản xuất hàng hóa và gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.

Trong trồng trọt, các giống cây trồng năng suất, chất lượng cao, quy trình canh tác an toàn, tưới tiết kiệm, nhà màng, nhà lưới và cơ giới hóa từng bước được áp dụng. Trong chăn nuôi, người dân chú trọng cải tiến giống, dinh dưỡng, an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh. Nuôi trồng thủy sản cũng từng bước đổi mới quy trình, kiểm soát môi trường và nâng cao chất lượng con giống.

Đáng mừng hơn, sự thay đổi không chỉ nằm ở kỹ thuật, công nghệ mà còn ở tư duy kinh tế. Nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm có giá trị cao, gắn sản xuất với chế biến và thị trường. Tiêu biểu như mô hình trồng hoa, cây ăn quả chất lượng cao trong nhà màng của gia đình ông Nguyễn Văn Điều ở xã Hồ Vương; chăn nuôi gà đẻ trứng ứng dụng tự động hóa của gia đình ông Nguyễn Xuân Minh ở phường Quảng Phú; hay mô hình trồng rừng, nuôi ong lấy mật dưới tán rừng và trồng dược liệu hữu cơ của gia đình bà Nguyễn Lê Ngọc Linh ở xã Hóa Quỳ… và rất nhiều hộ sản xuất khác trên khắp vùng miền của tỉnh đã, đang từng bước tối ưu hóa thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích.

Những mô hình này cho thấy nông dân Thanh Hóa đang chuyển mạnh từ tư duy sản xuất đơn thuần sang tư duy kinh tế nông nghiệp, quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, hiệu quả và giá trị sản phẩm.

Năm 2026, toàn tỉnh có 135.207 hộ đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Trong 9 tháng đầu năm, các cấp Hội thành lập mới 31 câu lạc bộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; các cấp Hội đã tổ chức 87 cuộc tham quan, học tập mô hình và 20 hội thảo chuyên đề về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn.

Để có được kết quả đó, Hội Nông dân các cấp đã tích cực tuyên truyền, vận động, tổ chức chuyển giao khoa học – kỹ thuật, hỗ trợ vốn và thúc đẩy liên kết sản xuất. Các cấp Hội đã đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ nông dân về vốn để đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất; đến nay, tổng dư nợ thông qua hoạt động tín chấp, nhận ủy thác với ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội đạt gần 17.000 tỷ đồng; nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đạt hơn 50,4 tỷ đồng.

Vai trò của Hội là khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo trong nông dân; đưa kiến thức, nguồn lực và những cách làm hiệu quả đến gần hơn với hội viên. Khi người nông dân thay đổi tư duy, mạnh dạn đổi mới phương thức sản xuất, khoa học – công nghệ mới thực sự trở thành động lực nâng cao giá trị nông nghiệp.

Thưa ông, khoa học công nghệ đang mở ra những cơ hội gì để nông dân Thanh Hóa nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản? Những tiến bộ kỹ thuật nào cần được ưu tiên ứng dụng để phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế tại địa phương?

Ông Vũ Tiến Dũng: Thực tiễn cho thấy, những tiến bộ kỹ thuật phát huy hiệu quả tại Thanh Hóa khá đa dạng, từ các giải pháp đơn giản, chi phí thấp đến công nghệ hiện đại, tự động hóa. Điều quan trọng không phải là công nghệ đắt tiền hay quy mô đầu tư lớn, mà là lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất, khả năng đầu tư và nhu cầu thực tế của từng hộ.

Việc sử dụng giống tốt, áp dụng quy trình sản xuất an toàn, sử dụng chế phẩm sinh học, tiết kiệm vật tư, tưới tiết kiệm và cơ giới hóa các khâu sản xuất đều có thể giúp giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng. Với hộ sản xuất nhỏ, đôi khi chỉ cần thay đổi quy trình chăm sóc, sử dụng giống phù hợp hoặc phòng trừ dịch bệnh đúng kỹ thuật cũng mang lại hiệu quả rõ rệt.

Việc nhân rộng mô hình cần xuất phát từ lợi thế từng vùng. Khu vực đồng bằng cần chú trọng cơ giới hóa, sản xuất lúa và rau màu an toàn, tiết kiệm vật tư; miền núi phát triển cây ăn quả, cây dược liệu, kinh tế rừng và chăn nuôi an toàn; vùng ven biển quan tâm công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Theo tôi, muốn nhân rộng thành công phải đồng bộ ba yếu tố: kỹ thuật phù hợp, nguồn lực bảo đảm và đầu ra ổn định. Nông dân cần được hướng dẫn thực hành tại mô hình cụ thể, tiếp cận vốn phù hợp và kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình đó, Hội Nông dân giữ vai trò cầu nối giữa hội viên với cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và doanh nghiệp; lựa chọn mô hình hiệu quả để tổ chức tham quan, chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng. Đồng thời, Hội cần phát huy vai trò của những nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, bởi chính họ là những người hiểu rõ điều kiện địa phương, có kinh nghiệm thực tế và có sức lan tỏa trong cộng đồng. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi người nông dân hiểu, sử dụng được và nhìn thấy hiệu quả kinh tế từ chính đồng ruộng, trang trại của mình.

Ông Vũ Tiến Dũng khảo sát mô hình sản xuất tại địa phương, qua đó nắm bắt nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ của hội viên nông dân.

Ông Vũ Tiến Dũng khảo sát mô hình sản xuất tại địa phương, qua đó nắm bắt nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ của hội viên nông dân.

Thực tế cho thấy, việc đưa công nghệ vào sản xuất vẫn gặp không ít khó khăn về vốn, kiến thức và khả năng tiếp cận kỹ thuật mới. Thưa ông, đâu là những rào cản lớn nhất hiện nay và Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa có giải pháp gì để hỗ trợ hội viên tháo gỡ những khó khăn này?

Ông Vũ Tiến Dũng: Khó khăn của nhiều hộ hiện nay là nguồn vốn còn hạn chế, kiến thức và kỹ năng công nghệ chưa đồng đều, trong khi sản xuất nhỏ lẻ làm tăng chi phí đầu tư và hạn chế khả năng liên kết thị trường. Vì vậy, Hội Nông dân tỉnh xác định hỗ trợ vốn, chuyển giao khoa học – kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và phát triển các hình thức liên kết là những nhiệm vụ trọng tâm.

Trước hết, Hội phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi để hội viên tiếp cận nguồn vốn tín chấp, ủy thác và các chương trình tín dụng phù hợp; đồng thời phát huy hiệu quả Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay các cấp Hội đã triển khai 813 dự án phát triển sản xuất, kinh doanh. Đây là nguồn lực thiết thực giúp nông dân đầu tư phương tiện, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất và phát triển mô hình kinh tế.

Cùng với hỗ trợ vốn, Hội chú trọng tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình điểm và tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm. Nội dung đào tạo phải sát nhu cầu, gắn với thực hành, hướng dẫn cụ thể từ lựa chọn giống, sử dụng vật tư, phòng trừ dịch bệnh đến bảo quản, chế biến nông sản và ứng dụng công nghệ số.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là vận động nông dân tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã, chi hội và tổ hội nông dân nghề nghiệp. Khi liên kết với nhau, các hộ có điều kiện chia sẻ kinh nghiệm, giảm chi phí đầu vào, thống nhất quy trình sản xuất và nâng cao khả năng đàm phán với doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng để ứng dụng công nghệ đồng bộ, thay vì mỗi hộ đầu tư riêng lẻ, thiếu hiệu quả.

Hội đồng thời phát huy vai trò của những nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trong hướng dẫn, hỗ trợ các hộ khác. Những mô hình thành công cần được đánh giá cụ thể về chi phí đầu tư, hiệu quả kinh tế và điều kiện áp dụng để người dân có thể lựa chọn cách làm phù hợp.

Chúng tôi xác định mục tiêu không phải là đưa thật nhiều máy móc, thiết bị về cơ sở, mà là giúp nông dân có đủ kiến thức, nguồn lực và sự tự tin để lựa chọn, vận hành và khai thác hiệu quả công nghệ. Hội không làm thay nông dân, mà tạo điều kiện để nông dân có kiến thức, có vốn, có liên kết và đủ năng lực chủ động phát triển kinh tế.

Thưa ông, bên cạnh ứng dụng công nghệ trong sản xuất, chuyển đổi số cũng mở ra cơ hội quảng bá, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ nông sản. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa sẽ hỗ trợ hội viên như thế nào để khai thác hiệu quả những lợi ích này, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương?

Ông Vũ Tiến Dũng: Chuyển đổi số giúp nông dân tiếp cận thông tin nhanh hơn, quảng bá sản phẩm rộng hơn và kết nối trực tiếp với khách hàng. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ là đưa sản phẩm lên mạng hay mở tài khoản trên sàn thương mại điện tử, mà phải gắn với quản lý chất lượng, tổ chức sản xuất và nhu cầu thị trường.

Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn hội viên tiếp cận các nền tảng số, quảng bá và kết nối tiêu thụ nông sản. Toàn tỉnh có 3.592 hộ mở tài khoản, đưa 29.200 sản phẩm nông nghiệp lên sàn thương mại điện tử Postmart.vn. Đây là kết quả bước đầu cho thấy nông dân đã quan tâm hơn đến việc đưa sản phẩm lên môi trường số.

Thời gian tới, Hội tiếp tục phát huy hiệu quả ứng dụng Nông dân Việt Nam, Mini App Nông dân Thanh Hóa và các nền tảng trực tuyến; hướng dẫn hội viên kỹ năng giới thiệu sản phẩm, bán hàng trực tuyến, tiếp nhận phản hồi khách hàng và cập nhật thông tin thị trường. Đối với sản phẩm có tiềm năng, cần hỗ trợ chuẩn hóa thông tin, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và kết nối với các kênh phân phối phù hợp.

Đặc biệt, chuyển đổi số phải đi cùng nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực liên kết. Sản phẩm muốn tiêu thụ hiệu quả cần có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định, khả năng đáp ứng đơn hàng và tổ chức giao nhận phù hợp. Vì vậy, Hội tiếp tục vận động nông dân tham gia hợp tác xã, phát triển các mô hình liên kết với doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích ứng dụng công nghệ trong quản lý quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng.

Để xây dựng nông dân số Cán bộ Hội cơ sở cũng cần được trang bị kỹ năng số để trực tiếp hướng dẫn hội viên, nhất là những người còn hạn chế trong sử dụng thiết bị thông minh và nền tảng trực tuyến. Điều chúng tôi hướng tới là giúp nông dân không chỉ biết sử dụng công nghệ mà còn biến công nghệ thành giá trị kinh tế thiết thực: mở rộng thị trường, nâng cao khả năng tiêu thụ, giảm khâu trung gian không cần thiết và xây dựng uy tín lâu dài cho sản phẩm. Khi chuyển đổi số gắn với chất lượng, liên kết sản xuất và nhu cầu thị trường, nông dân mới có thể tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.

Việc tham quan, trao đổi tại các mô hình sản xuất giúp Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa nắm bắt thực tế, làm cơ sở đề xuất giải pháp hỗ trợ hội viên ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.

Việc tham quan, trao đổi tại các mô hình sản xuất giúp Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa nắm bắt thực tế, làm cơ sở đề xuất giải pháp hỗ trợ hội viên ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.

Thưa ông, để nông dân không chỉ tiếp cận mà còn từng bước làm chủ khoa học công nghệ, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ chính sách, doanh nghiệp và các tổ chức hội. Theo ông, đâu là những giải pháp trọng tâm cần triển khai trong thời gian tới để đưa công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển nông nghiệp Thanh Hóa?

Ông Vũ Tiến Dũng: Theo tôi, để thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ trong nông nghiệp Thanh Hóa, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, tổ chức Hội và người nông dân. Trong đó, nông dân phải thực sự là chủ thể của quá trình chuyển đổi; các cơ chế, chính sách và nguồn lực hỗ trợ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất.

Tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ vốn, khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường; thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phù hợp, phát triển hợp tác xã, vùng sản xuất chuyên canh và hình thành các chuỗi liên kết. Đồng thời, tăng cường kết nối giữa cơ quan nghiên cứu, đơn vị chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp, hợp tác xã, từ khâu lựa chọn giống, tổ chức sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Công tác đào tạo cũng cần chuyển mạnh từ phổ biến kiến thức sang hướng dẫn thực hành, cầm tay chỉ việc và hỗ trợ sau tập huấn. Nông dân cần được trực tiếp trải nghiệm, vận hành và đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng công nghệ. Mọi chính sách hỗ trợ cần chú trọng tính phù hợp, hiệu quả thực tế, tránh đầu tư theo phong trào hoặc chạy theo những mô hình đắt tiền nhưng khó áp dụng.

Về phía Hội Nông dân, chúng tôi xác định tiếp tục phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên; đồng thời làm tốt vai trò cầu nối giữa nông dân với cơ chế, chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp và thị trường. Hội sẽ tập trung hỗ trợ vốn, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao kỹ năng số, thúc đẩy liên kết sản xuất và nhân rộng những mô hình phù hợp với điều kiện từng địa bàn.

Đặc biệt, cần tiếp tục phát huy phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, khơi dậy tinh thần sáng tạo và ý chí vươn lên của hội viên. Năm 2026, Thanh Hóa có hai cá nhân được tuyên dương Nông dân Việt Nam xuất sắc toàn quốc trong chương trình kỷ niệm 40 năm Đổi mới; một cá nhân tiêu biểu được đề nghị xét duyệt danh hiệu “Nhà khoa học của nhà nông” và một giải pháp đạt giải Nhất Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc. Những kết quả đó cho thấy nông dân không chỉ là người tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mà còn có tiềm năng sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào quá trình đổi mới nông nghiệp.

Theo tôi, thước đo cuối cùng của ứng dụng khoa học – công nghệ không phải là số lượng máy móc được đầu tư hay số mô hình được xây dựng, mà là năng suất, chất lượng và thu nhập của nông dân có tăng lên hay không; chi phí sản xuất có giảm, môi trường có được bảo vệ và đầu ra sản phẩm có ổn định hơn hay không.

Hội Nông dân phải thực sự là người đồng hành tin cậy của hội viên trên hành trình đổi mới: từ thay đổi tư duy, tiếp cận tri thức, huy động nguồn lực đến liên kết sản xuất và mở rộng thị trường. Khi chính sách sát thực tiễn, công nghệ phù hợp, thị trường được kết nối và nông dân được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, khoa học – công nghệ sẽ trở thành động lực nâng cao giá trị nông sản, góp phần xây dựng đội ngũ nông dân Thanh Hóa năng động, sáng tạo, từng bước làm chủ công nghệ, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, xanh, hiệu quả và bền vững.