Hải Phòng tăng trưởng hai con số: Bài toán đưa doanh nghiệp nội địa lớn lên

12:13, 13/10/2026

GRDP tăng 12,08% trong 9 tháng đầu năm 2026, cùng mục tiêu có ít nhất 3 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vào năm 2030, cho thấy khát vọng phát triển của Hải Phòng. Nhưng phía sau những con số tăng trưởng là một bài toán khó hơn: làm thế nào để doanh nghiệp nội địa đủ sức lớn mạnh, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và tạo ra giá trị gia tăng cao?

Tăng trưởng cao chưa đồng nghĩa với doanh nghiệp đã mạnh

Tại Hội nghị gặp mặt, lắng nghe ý kiến doanh nghiệp ngày 13/10/2026, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Ngọc Châu nêu một thực tế đáng chú ý: dù là thành phố công nghiệp, cảng biển có lịch sử phát triển hơn 100 năm, Hải Phòng vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp mang thương hiệu quốc gia và doanh nghiệp có sản phẩm tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hải Phòng tăng trưởng hai con số Bài toán đưa doanh nghiệp nội địa lớn lênBí thư Thành ủy Hải Phòng, ông Lê Ngọc Châu phát biểu tại hội nghị. Ảnh Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng

Nhận định này đặt ra một vấn đề vượt ra ngoài phạm vi phát triển của riêng một địa phương: tăng trưởng kinh tế có thể tạo ra quy mô lớn hơn cho nền kinh tế, nhưng không tự động chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Theo số liệu được công bố tại hội nghị, trong 9 tháng đầu năm 2026, GRDP Hải Phòng tăng 12,08%; riêng quý III tăng 13,09%. Thu ngân sách nhà nước đạt gần 164.000 tỷ đồng, thu hút đầu tư nước ngoài trên 3,6 tỷ USD. Thành phố hiện có gần 55.000 doanh nghiệp đang hoạt động; hơn 5.500 doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng, với tổng vốn đăng ký hơn 52.100 tỷ đồng.

Những con số này phản ánh sức bật của một trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics lớn. Tuy nhiên, số doanh nghiệp thành lập mới, tổng vốn đăng ký hay tốc độ tăng GRDP mới phản ánh một phần bức tranh kinh tế. Chúng chưa đủ để trả lời những câu hỏi quan trọng hơn: bao nhiêu doanh nghiệp có năng lực công nghệ và quản trị tiên tiến; bao nhiêu doanh nghiệp đủ sức trở thành nhà cung ứng cấp cao cho các tập đoàn lớn; bao nhiêu thương hiệu nội địa có khả năng cạnh tranh ở thị trường quốc tế?

Cần phân biệt rõ giữa tăng trưởng của nền kinh tế với sự trưởng thành của lực lượng doanh nghiệp nội địa. Một địa phương có thể thu hút những dự án đầu tư quy mô lớn, mở rộng sản xuất công nghiệp và gia tăng xuất khẩu, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn có thể chủ yếu hoạt động ở những khâu có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào đơn hàng hoặc công nghệ của đối tác.

Vấn đề không nằm ở việc tăng trưởng cao là chưa đủ tốt, mà ở chỗ thành quả tăng trưởng cần được chuyển hóa như thế nào thành năng lực sản xuất, công nghệ, thương hiệu và tích lũy dài hạn của doanh nghiệp Việt Nam.

Đó cũng là lý do mục tiêu Hải Phòng đến năm 2030 có ít nhất 3 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cần được nhìn nhận như một chỉ dấu về chất lượng phát triển, chứ không đơn thuần là một chỉ tiêu về số lượng.

Từ thu hút đầu tư đến tạo lập năng lực cạnh tranh nội sinh

Hải Phòng tăng trưởng hai con số Bài toán đưa doanh nghiệp nội địa lớn lênToàn cảnh hội nghị

Hải Phòng có lợi thế đặc biệt về cảng biển, công nghiệp, kết nối giao thông và khả năng thu hút vốn đầu tư. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành các cụm sản xuất, trung tâm logistics và mạng lưới cung ứng quy mô lớn. Nhưng lợi thế địa lý và dòng vốn đầu tư chỉ trở thành sức mạnh kinh tế bền vững khi doanh nghiệp trong nước có khả năng tham gia sâu hơn vào quá trình tạo ra giá trị.

Trong chuỗi sản xuất hiện đại, sự hiện diện của một tập đoàn lớn không mặc nhiên đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp địa phương được hưởng lợi tương xứng. Nếu doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, năng suất, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và khả năng giao hàng, cơ hội cung ứng có thể vẫn nằm ngoài tầm với.

Bởi vậy, thách thức của Hải Phòng không chỉ là tiếp tục thu hút dự án mới, mà còn phải tạo được mối liên kết thực chất giữa các dự án ấy với khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam cung cấp được linh kiện, dịch vụ kỹ thuật, giải pháp công nghệ và sản phẩm phụ trợ có hàm lượng giá trị cao, dòng vốn đầu tư mới có cơ hội lan tỏa rộng hơn vào nền kinh tế địa phương.

Ngược lại, nếu mối liên kết yếu, hiệu ứng lan tỏa có thể bị hạn chế. Doanh nghiệp nội địa khó tích lũy kinh nghiệm, không đủ quy mô để đầu tư nghiên cứu và phát triển, còn nền kinh tế địa phương khó hình thành những doanh nghiệp đầu tàu có sức cạnh tranh độc lập.

Điều này đòi hỏi cách tiếp cận phát triển doanh nghiệp phải thay đổi. Thay vì chỉ quan tâm đến số lượng doanh nghiệp được thành lập, cần chú trọng tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững; thay vì chỉ nhìn vào vốn đầu tư đăng ký, cần đánh giá năng lực sản xuất và giá trị gia tăng được tạo ra tại địa phương; thay vì chỉ ghi nhận các thỏa thuận hợp tác, cần đo lường số doanh nghiệp nội địa thực sự trở thành nhà cung ứng trong chuỗi sản xuất.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, con đường đi lên không nhất thiết bắt đầu bằng việc mở rộng quy mô thật nhanh. Quan trọng hơn là lựa chọn đúng thị trường ngách, chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng suất, quản trị dòng tiền và đầu tư công nghệ phù hợp. Một doanh nghiệp chưa lớn về doanh thu nhưng có sản phẩm chuyên biệt, chất lượng ổn định và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế vẫn có thể trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng.

Với doanh nghiệp lớn, trách nhiệm không chỉ là mở rộng thị phần mà còn có thể trở thành lực kéo đối với hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước, thông qua đặt hàng, hỗ trợ tiêu chuẩn kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm quản trị và phát triển nhà cung ứng. Đây là quá trình cần sự chủ động từ doanh nghiệp, đồng thời cần môi trường chính sách đủ ổn định để các khoản đầu tư dài hạn có cơ sở phát huy hiệu quả.

Thước đo mới: Doanh nghiệp lớn lên, giá trị ở lại

Tại hội nghị, lãnh đạo thành phố đặt mục tiêu giai đoạn 2026–2030 tăng trưởng GRDP bình quân từ 13% mỗi năm trở lên, nâng số doanh nghiệp lên 87.000 và phát triển ít nhất 3 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là những mục tiêu tham vọng, đòi hỏi không chỉ tốc độ tăng trưởng cao mà còn sự chuyển biến về chất lượng nền kinh tế.

Muốn biến mục tiêu thành hiện thực, Hải Phòng cần đồng thời giải quyết hai nhóm vấn đề: năng lực nội tại của doanh nghiệp và chất lượng môi trường kinh doanh.

Về phía doanh nghiệp, đổi mới công nghệ phải đi cùng đổi mới quản trị; mở rộng sản xuất phải gắn với năng suất và hiệu quả; tăng doanh thu phải đi cùng năng lực tài chính lành mạnh. Đặc biệt, doanh nghiệp cần giảm tâm lý trông chờ vào ưu đãi, chủ động tìm kiếm đối tác, nâng chuẩn sản phẩm và đầu tư vào nguồn nhân lực. Thượng tôn pháp luật, minh bạch tài chính và xây dựng văn hóa kinh doanh cũng là điều kiện để tiếp cận những thị trường và chuỗi cung ứng có yêu cầu cao.

Về phía chính quyền, thông điệp chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo, phát triển và phục vụ cần được cụ thể hóa bằng kết quả có thể kiểm chứng. Những vướng mắc về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng và môi trường phải được xử lý theo thẩm quyền, với đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn rõ ràng và cơ chế giải trình khi chậm trễ. Một môi trường kinh doanh tốt không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn tạo sự ổn định cần thiết cho quyết định đầu tư dài hạn.

Đề xuất nghiên cứu một đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư mà lãnh đạo thành phố nêu tại hội nghị vì thế có ý nghĩa nếu cơ chế này đủ thẩm quyền điều phối, theo dõi tiến độ và thúc đẩy các cơ quan liên quan giải quyết công việc. Nếu chỉ tiếp nhận rồi chuyển hồ sơ, đầu mối mới khó tạo ra khác biệt thực chất.

Bên cạnh đó, các mục tiêu phát triển cần đi kèm hệ thống chỉ số đánh giá rõ ràng. Với mục tiêu doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cần xác định cụ thể tiêu chí về quy mô, doanh thu, thị trường, tỷ trọng cung ứng và mức độ tham gia vào các công đoạn có giá trị cao. Với mục tiêu phát triển doanh nghiệp nói chung, cần quan tâm cả số doanh nghiệp hoạt động thực chất, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tồn tại qua những chu kỳ kinh tế khó khăn.

Một nền kinh tế mạnh không chỉ có nhiều doanh nghiệp, mà cần những doanh nghiệp có khả năng đứng vững khi thị trường biến động, tạo việc làm ổn định, đầu tư cho công nghệ và cạnh tranh bằng chất lượng. Một thành phố có vị thế kinh tế lớn cũng không chỉ được nhận diện bởi quy mô đầu tư, mà còn bởi năng lực của những doanh nghiệp do chính nền kinh tế ấy nuôi dưỡng và phát triển.

Hải Phòng có lợi thế để tiếp tục bứt phá. Nhưng bước tiến tiếp theo không thể chỉ là tăng thêm vốn đầu tư hay nâng cao các chỉ số tăng trưởng. Đó phải là quá trình chuyển lợi thế cảng biển, công nghiệp và logistics thành năng lực cạnh tranh nội sinh; chuyển cơ hội từ dòng vốn đầu tư thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam; chuyển những cam kết đồng hành thành kết quả đo đếm được.

Bởi thước đo sâu hơn của tăng trưởng không chỉ là nền kinh tế lớn lên bao nhiêu, mà còn là doanh nghiệp nội địa trưởng thành đến đâu và bao nhiêu giá trị được tạo ra, tích lũy bền vững trong chính nền kinh tế thành phố.