Phổ tần số vô tuyến điện, tài nguyên quốc gia chiến lược trong kinh tế số

16:32, 29/07/2026

Phổ tần số vô tuyến điện là tài nguyên quốc gia hữu hạn và không thể tái tạo, giữ vai trò như mạch máu của hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng thời trở thành nền tảng của nền kinh tế số lẫn an ninh quốc phòng Việt Nam khi cả nước bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Nhiều người vẫn hình dung sóng vô tuyến giống như không khí hay ánh sáng mặt trời, dồi dào và gần như vô tận, cứ mở điện thoại lên là có sóng nên chẳng mấy ai bận tâm tài nguyên ấy từ đâu mà ra. Thực tế phổ tần số vô tuyến điện dùng cho viễn thông lại là một trong những tài nguyên khan hiếm bậc nhất mà một quốc gia sở hữu, và cách một đất nước quản lý nguồn tài nguyên vô hình ấy quyết định phần lớn năng lực cạnh tranh của nền kinh tế số cũng như thế đứng chiến lược trên bản đồ viễn thông toàn cầu.

Hạ tầng số, dữ liệu số và mạng 5G đang tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển theo mục tiêu Nghị quyết 57-NQ/TW.

Hạ tầng số, dữ liệu số và mạng 5G đang tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển theo mục tiêu Nghị quyết 57-NQ/TW.

Về bản chất, phổ tần số vô tuyến điện là tập hợp các sóng điện từ lan truyền tự do trong không gian, hình thành từ dao động của điện trường và từ trường mà không cần bất kỳ đường dẫn nhân tạo nào. Theo Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09/2022/QH15 và được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 62/VBHN-VPQH năm 2025, sóng vô tuyến điện là sóng điện từ có tần số dưới 3000 GHz; cách hiểu này phù hợp với định nghĩa trong Thể lệ Vô tuyến điện của ITU.

Trong thực tiễn quản lý phổ, các quốc gia thường quy hoạch và phân bổ trong dải tần rộng, thường được mô tả khoảng từ 9 kHz đến 3000 GHz, để phục vụ các nghiệp vụ như sóng trung, sóng ngắn, thông tin di động, sóng cực ngắn và sóng milimét.

Tính hữu hạn của phổ tần thể hiện rõ nhất ở hiện tượng can nhiễu. Khi hai trạm phát sóng cùng sử dụng một tần số tại cùng một thời điểm và một không gian địa lý, tín hiệu của chúng sẽ triệt tiêu hoặc làm nhiễu lẫn nhau, khiến thông tin không thể giải mã và toàn bộ hệ thống liên lạc rơi vào hỗn loạn.

Vì sao phổ tần số vô tuyến điện là dạng “bất động sản” không gian đặc biệt

Phổ tần số vì thế trở thành một dạng "bất động sản" không gian, trong đó mỗi dải tần tương đương với một lô đất riêng biệt, và cũng giống hệt đất đai, con người không thể tạo thêm phổ tần mới, công nghệ chỉ giúp chia nhỏ lô đất đó hoặc xây cao tầng hơn nhằm phục vụ nhiều người dùng hơn trên cùng một diện tích tần số.

Điều đáng nói là phổ tần còn khó giữ hơn cả đất đai, bởi khi một giây trôi qua mà một băng tần không được dùng đến, giá trị sử dụng của băng tần trong giây đó mất đi vĩnh viễn, không thể để dành hay tích lũy như khoáng sản hay dầu mỏ vốn có thể nằm yên dưới lòng đất chờ ngày khai thác.

Chính đặc tính khan hiếm, hữu hạn và dễ gây nhiễu của phổ tần số vô tuyến điện đặt ra yêu cầu quản lý ở tầm quốc gia. Theo Hiến pháp năm 2013, tài sản công, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trên cơ sở đó, Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09/2022/QH15 và được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất 62/VBHN-VPQH năm 2025, quy định Nhà nước thống nhất quản lý tần số vô tuyến điện, phù hợp với tính chất tài nguyên đặc biệt của phổ tần là hữu hạn, lan truyền xuyên biên giới và dễ gây nhiễu nếu không được điều phối tập trung.

Việc quản lý và phân bổ tần số vô tuyến điện ở Việt Nam được thực hiện thông qua Quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia. Theo đó, phổ tần số được phân chia thành các băng tần dành cho những nghiệp vụ vô tuyến điện khác nhau như hàng không, hàng hải, phát thanh, truyền hình và thông tin di động; đồng thời Nhà nước có phương án phân bổ băng tần phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh theo từng thời kỳ.

Việc cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện là công cụ để ấn định tần số cụ thể cho tổ chức, cá nhân theo điều kiện kỹ thuật và quy hoạch hiện hành; qua đó, Nhà nước vừa bảo đảm khai thác hiệu quả tài nguyên phổ tần, vừa điều tiết thị trường viễn thông, hạn chế can nhiễu và bảo vệ lợi ích công cộng, trong đó có quyền lợi người sử dụng dịch vụ.

Khi “đất vàng” không gian được định giá bằng đấu giá công khai

Trong nền kinh tế số, phổ tần số vô tuyến điện thường được ví như “mỏ vàng” hay “đất vàng” không gian nhờ khả năng lan tỏa kinh tế rộng khắp. Giá trị tối ưu của tài nguyên này nằm ở sự cân bằng giữa chi phí xây dựng hạ tầng và hiệu năng truyền tải, bởi một băng tần chất lượng cao cho phép các nhà mạng mở rộng tối đa vùng phủ sóng của các trạm 5G với chi phí thấp nhất, đồng thời vẫn bảo đảm tốc độ truy cập dữ liệu vượt trội cho người dùng.

Viettel giữ vững vai trò doanh nghiệp lớn nhất ngành Viễn thông Việt Nam

Viettel giữ vững vai trò doanh nghiệp lớn nhất ngành Viễn thông Việt Nam

Để tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực phổ tần, cơ chế quản lý của Nhà nước ngày càng bổ sung các công cụ thị trường bên cạnh phương thức hành chính truyền thống. Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/7/2023, đã hoàn thiện cơ sở pháp lý cho đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, qua đó mở đường cho các phiên đấu giá công khai đối với một số băng tần. Việc đấu giá và thu các nghĩa vụ tài chính liên quan giúp tăng tính minh bạch, tạo nguồn thu cho ngân sách và phản ánh giá trị thị trường của quyền sử dụng phổ tần trong bối cảnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông.

Năm 2024, Việt Nam lần đầu tổ chức thành công đấu giá các băng tần trung phục vụ triển khai 5G. Ngày 08/3/2024, Viettel trúng khối băng tần B1 (2500–2600 MHz) với giá 7.533.257.500.000 đồng cho thời hạn khai thác 15 năm. Ngày 19/3/2024, VNPT trúng khối C2 (3700–3800 MHz) sau 17 vòng đấu với giá hơn 2.581 tỷ đồng. Đến tháng 7/2024, MobiFone trúng khối C3 (3800–3900 MHz) với giá hơn 2.581 tỷ đồng. Ba phiên đấu giá này đã mang về cho ngân sách nhà nước hơn 12.500 tỷ đồng.

Cuộc đua giành quyền sử dụng băng tần thấp 700 MHz tiếp tục nóng lên khi Việt Nam tổ chức đấu giá lại các khối băng tần này cho 4G/5G. Ngày 20/5/2025, Viettel trúng đấu giá khối B2-B2’ (713-723 MHz và 768-778 MHz) với giá 1.995.613.000.000 đồng; đến ngày 16/9/2025, VNPT trúng đấu giá khối B1-B1’ (703-713 MHz và 758-768 MHz) cũng với mức giá 1.995.613.000.000 đồng. Đây là các băng tần được đánh giá có khả năng phủ sóng rộng và xuyên vật cản tốt, phù hợp để mở rộng vùng phủ di động. Các cuộc đấu giá liên tục này giúp tổng phổ tần IMT của Việt Nam tăng từ 339,6 MHz lên 659,6 MHz, tương đương mức tăng khoảng 94%, qua đó bổ sung đáng kể tài nguyên tần số cho thông tin di động và tạo dư địa phát triển 4G/5G trong những năm tới.

Hình thức đấu giá gắn quyền sử dụng phổ tần với nghĩa vụ tài chính cụ thể, buộc doanh nghiệp phải cân đối giữa chi phí trúng đấu giá và khả năng sinh lời từ hạ tầng mạng lưới. Một băng tần nếu bị để trống, đầu cơ hoặc sử dụng kém hiệu quả sẽ gây lãng phí tài nguyên nghiêm trọng, triệt tiêu cơ hội phát triển công nghệ và gây thiệt hại cho toàn xã hội. Cơ chế đấu giá vì thế không dừng lại ở việc thu tiền về ngân sách mà còn bảo đảm quyền sử dụng phổ tần được phân bổ cho doanh nghiệp có năng lực khai thác hiệu quả nhất, tránh tình trạng doanh nghiệp giữ tài nguyên chỉ để chiếm chỗ mà không đưa vào phục vụ người dân.

Đặt trong bối cảnh quốc tế, giá trị kinh tế của phổ tần ngày càng hiện rõ. Theo GSMA, phổ tần băng trung cho 5G có thể đóng góp hơn 610 tỷ USD vào GDP toàn cầu năm 2030, chiếm khoảng 65% tổng tác động kinh tế - xã hội của 5G. Ở Hoa Kỳ, phiên đấu giá C-band của Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) năm 2021 ghi nhận 81,1 tỷ USD tiền trúng thầu ròng và 81,17 tỷ USD giá trị đặt thầu gộp, trở thành một trong những phiên đấu giá phổ tần đắt nhất thế giới.

Tại Hàn Quốc, phiên đấu giá 5G năm 2018 thu về khoảng 3,62 nghìn tỷ won, tương đương 3,3 tỷ USD. So với các con số đó, kết quả đấu giá phổ tần của Việt Nam năm 2024 còn ở mức thấp hơn, cho thấy dư địa khai thác giá trị kinh tế của tài nguyên phổ tần vẫn còn rất lớn khi kinh tế số tiếp tục phát triển. Hiệu quả khai thác phổ tần đã phản ánh vào thực tế triển khai. Viettel khai trương mạng 5G thương mại ngày 15/10/2024 với hơn 6.500 trạm phát sóng, phủ sóng thủ phủ của toàn bộ 63 tỉnh, thành phố, đạt tốc độ tải dữ liệu từ 700 Mbps đến 1 Gbps, nhanh gấp khoảng 10 lần so với 4G.

VNPT và MobiFone lần lượt đưa dịch vụ 5G vào khai thác ngay sau đó. Song song tiến trình này, Việt Nam thực hiện lộ trình tắt sóng 2G theo hai giai đoạn, dừng phục vụ thuê bao chỉ dùng máy 2G từ ngày 16/10/2024 và tiến tới tắt sóng 2G hoàn toàn vào ngày 15/9/2026, qua đó giải phóng những băng tần cũ để tái phân bổ cho công nghệ mới hiệu quả hơn.

Chủ quyền không gian vô tuyến và cuộc đua giành phổ tần thời 6G

Bên cạnh giá trị kinh tế, phổ tần số vô tuyến điện giữ vai trò sống còn đối với an ninh quốc phòng, làm nền tảng vận hành cho toàn bộ hệ thống radar cảnh giới, thông tin chỉ huy tác chiến cùng các phương tiện tác chiến điện tử. Việc làm chủ không gian vô tuyến giúp một quốc gia chủ động phòng ngừa hành vi can nhiễu từ bên ngoài, tránh nguy cơ bị cô lập về mặt thông tin trong những tình huống nhạy cảm.

Công tác quản lý tần số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo đảm quyền lợi của quốc gia trên không gian vũ trụ, được thực hiện thông qua việc đăng ký, phối hợp và bảo vệ vị trí quỹ đạo cùng tần số vệ tinh tại Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU).

Việt Nam đã hoàn tất quá trình đàm phán, phối hợp tần số và quỹ đạo để đưa vệ tinh VINASAT-1 lên vị trí 132 độ Đông khi phóng thành công ngày 19/4/2008; theo thông tin công bố khi đó, Việt Nam đã phối hợp với 27 quốc gia và vùng lãnh thổ để có được vị trí thuận lợi này. Tiếp đó, VINASAT-2 được phóng ngày 16/5/2012 và hoạt động ở vị trí 131,8 độ Đông.

Những bước đi này góp phần bảo đảm quyền lợi chiến lược của Việt Nam trong khai thác tài nguyên quỹ đạo và tần số, đồng thời mở rộng không gian phát triển viễn thông vệ tinh trong tương lai. Đến nay, Việt Nam vẫn đang chuẩn bị các dự án vệ tinh mới, trong đó có kế hoạch phóng vệ tinh thay thế VINASAT-1 và VINASAT-2 vào cuối năm 2026, còn vệ tinh radar LOTUSat-1 được kỳ vọng phóng lên không gian vào đầu năm 2027.

Vệ tinh LOTUSat-1 được chế tạo tại Nhật Bản. Ảnh: VNSC

Vệ tinh LOTUSat-1 được chế tạo tại Nhật Bản. Ảnh: VNSC

Bài toán chủ quyền càng trở nên thời sự khi dịch vụ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp bước chân vào thị trường Việt Nam. Theo Nghị quyết 193/2025/QH15 của Quốc hội và Quyết định 659 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam cho phép thí điểm có kiểm soát dịch vụ vệ tinh quỹ đạo thấp trong thời hạn 5 năm, kết thúc trước 01/01/2031, trên nguyên tắc bảo đảm quốc phòng, an ninh và tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về đầu tư, cấp phép viễn thông, tần số vô tuyến điện và cơ chế quản lý của cơ quan có thẩm quyền. Điều kiện quan trọng nhất là toàn bộ lưu lượng do thuê bao tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam phải đi qua trạm cổng mặt đất (Trạm Gateway) đặt trong nước và kết nối vào mạng viễn thông công cộng nội địa, một yêu cầu vừa mở cửa hội nhập vừa giữ vững chủ quyền dữ liệu và chủ quyền không gian vô tuyến quốc gia.

Các nguyên tắc quản lý và bảo vệ không gian vô tuyến đã được thể chế hóa trong Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung số 09/2022/QH15. Luật quy định về quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện, thiết bị vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, an toàn bức xạ vô tuyến điện và tương thích điện từ; đồng thời giao cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành xây dựng quy hoạch phổ tần, quy hoạch băng tần, tổ chức đấu giá/thi tuyển/cấp giấy phép và cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định. Cơ quan tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ này là Cục Tần số vô tuyến điện thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

Cuộc chạy đua giành phổ tần sẽ tiếp tục nóng lên khi thế giới tiến tới 6G và Internet vạn vật, bởi nhu cầu về băng tần cho mạng di động được dự báo tăng mạnh trong giai đoạn 2035–2040. Theo GSMA trong báo cáo Vision 2040, các mạng di động ở đô thị mật độ cao có thể cần khoảng 2–3 GHz phổ tần băng trung, còn ở các quốc gia có nhu cầu cao có thể lên tới 2,5–4 GHz; điều này cho thấy áp lực bổ sung phổ tần là rất lớn so với nguồn hiện có.

Tại cấp độ quốc tế, ITU/WRC-23 đã thống nhất nghiên cứu dải 7–8,5 GHz cho 6G trước Hội nghị Thông tin vô tuyến thế giới tiếp theo vào năm 2027, đồng thời tiếp tục xem xét khả năng chia sẻ phổ tần với các dịch vụ đang khai thác trong băng này.

Những thách thức mới xoay quanh việc chia sẻ phổ tần thông minh giữa các dịch vụ, bảo đảm tương thích kỹ thuật với hệ thống hiện hữu, và khai thác các dải tần cao hơn phục vụ 6G, trong đó việc quy hoạch các dải 6 GHz và 7–8,5 GHz đang là trọng tâm thảo luận quốc tế.

Hướng tháo gỡ nằm ở sự đổi mới không ngừng về chính sách và công nghệ quản lý vô tuyến nhận thức, cho phép thiết bị tự động dò tìm và tận dụng những khoảng tần số đang bỏ trống trong từng thời điểm. Nhìn tổng thể, phổ tần số vô tuyến điện vừa là phương tiện truyền tải dữ liệu, vừa là nền tảng của chủ quyền, kinh tế và an ninh quốc gia, nên nhận thức đúng bản chất cùng năng lực quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên này sẽ trở thành chìa khóa để Việt Nam bứt phá trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khẳng định vị thế trên bản đồ kinh tế số toàn cầu.