Từ 7 "chiếc máy cái" đến hệ sinh thái đào tạo số của Việt Nam
Ba thập kỷ trước, khi khái niệm "công nghệ thông tin" vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam, ngành Giáo dục đã đặt nền móng cho một chiến lược đào tạo nhân lực CNTT quy mô quốc gia bằng việc xây dựng 7 khoa CNTT trọng điểm. Từ những "chiếc máy cái" đầu tiên ấy, hàng chục nghìn kỹ sư, chuyên gia và nhà khoa học đã trưởng thành, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm phát triển công nghệ năng động của khu vực.
Dấu mốc bản lề của CNTT Việt Nam
GS.TS Nguyễn Thúc Hải, một trong những người trực tiếp tham gia xây dựng hệ thống đào tạo CNTT quốc gia từ những ngày đầu, từng nhận định thập niên 1990 là giai đoạn bản lề của CNTT Việt Nam.
Theo ông, có ba dấu ấn quan trọng tạo nền tảng cho sự phát triển của ngành.
Thứ nhất, Hội Tin học Việt Nam sau Đại hội lần thứ nhất năm 1989 đã trở thành lực lượng nòng cốt trong việc phổ biến kiến thức tin học, kết nối cộng đồng chuyên gia và thúc đẩy ứng dụng CNTT trong xã hội.
Thứ hai, Chương trình quốc gia về CNTT hướng tới năm 2000 được Chính phủ phê duyệt năm 1995 đã tạo nên bước đi đồng bộ đầu tiên ở quy mô quốc gia. Cũng từ giai đoạn này, thuật ngữ "công nghệ thông tin" được sử dụng rộng rãi trong các văn bản quản lý, đào tạo và nghiên cứu.
Thứ ba, tháng 11/1997 đánh dấu sự kiện Internet chính thức được cung cấp tại Việt Nam, mở ra thời kỳ hội nhập mạnh mẽ với thế giới số.
Trong bối cảnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định nhiệm vụ cấp bách là xây dựng các trung tâm đào tạo CNTT trình độ cao, đủ sức dẫn dắt toàn hệ thống giáo dục đại học.

(Ảnh: chuyến đi xuyên Việt của GS Nguyễn Thúc Hải, PGS Đỗ Trung Tuấn và TS Quách Tuấn Ngọc)
Sự ra đời của 7 khoa CNTT trọng điểm
Đầu những năm 1990, Ban Chỉ đạo CNTT của ngành Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất xây dựng các khoa CNTT trọng điểm tại những cơ sở đào tạo lớn trên cả nước. Mục tiêu là hình thành những đơn vị nòng cốt, vừa đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa hỗ trợ phát triển đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo cho các trường đại học khác.
Từ chủ trương đó, 7 khoa CNTT trọng điểm lần lượt được thành lập:
-
Khoa CNTT và Truyền thông, Đại học Cần Thơ.
-
Khoa CNTT, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM.
-
Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM.
-
Khoa CNTT, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng.
-
Khoa CNTT, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
-
Khoa CNTT, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội).
-
Khoa CNTT, Đại học Bách khoa Hà Nội.

(Ảnh: Các Chủ Nhiệm khoa đầu tiên)
Một điểm đáng chú ý là 7 khoa được phân bố trên phạm vi cả nước, từ Hà Nội, Huế, Đà Nẵng đến TP.HCM và Cần Thơ. Điều này cho thấy ngay từ giữa những năm 1990, ngành giáo dục đã có tầm nhìn xây dựng mạng lưới đào tạo CNTT mang tính quốc gia, thay vì tập trung nguồn lực tại một vài trung tâm lớn.
Hơn 30 năm chuyển mình
Sau hơn ba thập kỷ, bức tranh đào tạo CNTT tại Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ. Từ vài khoa tiên phong ban đầu, cả nước hiện có hàng trăm cơ sở đào tạo các ngành liên quan đến CNTT, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an toàn thông tin và chuyển đổi số.
Nhiều đơn vị trong nhóm 7 khoa trọng điểm cũng đã phát triển lên quy mô mới.
Khoa CNTT và Truyền thông của Đại học Cần Thơ hiện đã trở thành Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông.
Khoa CNTT Đại học Bách khoa Hà Nội đã phát triển thành Viện CNTT và Truyền thông, sau đó tiếp tục chuyển đổi thành Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT) thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội.
Khoa CNTT của Đại học Tổng hợp Hà Nội sau quá trình tái cấu trúc hệ thống đại học quốc gia đã trở thành một đơn vị thuộc Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong khi đó, các khoa CNTT tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM, Trường Đại học Bách khoa TP.HCM, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng và Trường Đại học Khoa học Huế tiếp tục giữ vai trò là những trung tâm đào tạo, nghiên cứu CNTT hàng đầu của cả nước.
|
7 khoa CNTT trọng điểm: Ngày ấy và bây giờ |
||
|
Đơn vị khi thành lập (1994-1995) |
Người đứng đầu đầu tiên |
Hiện trạng năm 2026 |
|
Khoa CNTT và Truyền Thông, Đại học Cần Thơ; 23/08/1994 là ngày kỷ niệm thành lập Khoa. |
ThS Võ Văn Chín |
Đã phát triển thành Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Cần Thơ. Hiệu trưởng hiện nay là TS Nguyễn Hữu Hòa. |
|
Khoa CNTT, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQG -HCM; 04/1995 là kỷ niệm thành lập Khoa. |
GS Hoàng Văn Kiếm |
Vẫn là một trong những khoa CNTT lớn nhất cả nước, trực thuộc Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. Trưởng khoa là TS. Đinh Bá Tiến. |
|
Khoa Khoa học Máy tính, Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM, được thành lập vào năm 1993. |
GS Phan Thị Tươi |
Hiện là Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính. Trưởng khoa là PGS.TS Quản Thành Thơ. Đổi tên hiện nay từ năm 2007. |
|
Khoa CNTT, Trường ĐH Bách khoa - Đại học Đà Nẵng, được thành lập vào năm 1996. |
PGS Phan Huy Khánh |
Vẫn giữ mô hình khoa trực thuộc trường, là một trong những trung tâm đào tạo CNTT lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, với hơn 35 năm phát triển. Trưởng khoa là PGS.TS Nguyễn Tấn Khôi. |
|
Khoa CNTT, Trường ĐH Khoa học - Đại học Huế, được thành lập vào 13/12/1994, nhưng chính thức đi vào hoạt động vào 01/06/1995. |
PGS Lê Mạnh Thạnh |
Vẫn trực thuộc Trường ĐH Khoa học, Đại học Huế. Trưởng khoa hiện nay là TS Nguyễn Hoàng Hà. |
|
Khoa CNTT, ĐH Tổng hợp Hà Nội. Khoa được thành lập vào ngày 22/2/1995. |
PGS Hồ Sỹ Đàm |
Sau khi thành lập ĐHQG Hà Nội, khoa trở thành đơn vị thuộc Trường Đại học Công nghệ (UET). Đây hiện là một trong những trung tâm đào tạo CNTT, AI và khoa học dữ liệu hàng đầu cả nước. Trưởng khoa là GS.TS. Lê Sỹ Vinh. |
|
Khoa CNTT, Đại học Bách Khoa Hà Nội, thành lập vào năm 1995.
|
GS Nguyễn Thúc Hải |
Đã phát triển thành Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT) thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, sau giai đoạn chuyển đổi từ Khoa CNTT sang Viện CNTT và Truyền thông. Hiệu trưởng là PGS.TS. Tạ Hải Tùng. |

Các Chủ Nhiệm khoa, Hiệu trưởng đương nhiệm.
Từ những khóa sinh viên đầu tiên chỉ vài chục người, nhiều đơn vị trong nhóm 7 khoa CNTT trọng điểm hiện đã đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ công nghệ thông tin. Không ít cựu sinh viên đang giữ vai trò lãnh đạo tại các doanh nghiệp công nghệ lớn, cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và trường đại học trong và ngoài nước.
Đặc biệt, nhiều giảng viên đang giảng dạy tại các trường đại học đào tạo CNTT trên cả nước cũng trưởng thành từ chính những khoa CNTT trọng điểm này. Vì thế, khái niệm "chiếc máy cái" mà thế hệ đi trước sử dụng không chỉ mang ý nghĩa đào tạo sinh viên, mà còn phản ánh vai trò đào tạo đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Từ CNTT đến AI và nguồn nhân lực số
Nếu như nhiệm vụ của 7 khoa CNTT trọng điểm trong những năm 1990 là đào tạo nhân lực phục vụ công cuộc tin học hóa đất nước và phát triển Internet, thì hiện nay các đơn vị này đang đứng trước những yêu cầu mới của thời đại số.
Trong những năm gần đây, nhiều chương trình đào tạo mới về trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, điện toán đám mây, an toàn thông tin, Internet vạn vật (IoT), công nghệ bán dẫn và thiết kế vi mạch đã được triển khai. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ đào tạo CNTT truyền thống sang đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế số.
Sự phát triển của AI tạo sinh, dữ liệu lớn và chuyển đổi số quốc gia đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, các đơn vị kế thừa từ 7 khoa CNTT trọng điểm tiếp tục được kỳ vọng giữ vai trò tiên phong trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Di sản của những người mở đường
Nhìn lại hành trình hơn 30 năm, giá trị lớn nhất mà 7 khoa CNTT trọng điểm để lại không chỉ nằm ở số lượng kỹ sư được đào tạo, mà còn ở việc hình thành đội ngũ giảng viên, chuyên gia và nhà khoa học cho cả hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Từ những "chiếc máy cái" đầu tiên được xây dựng trong giai đoạn khởi đầu của công cuộc tin học hóa đất nước, Việt Nam ngày nay đã hình thành một hệ sinh thái đào tạo và nghiên cứu công nghệ số rộng khắp. Đó là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an toàn thông tin, công nghiệp bán dẫn và chuyển đổi số quốc gia.
