Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Lĩnh vực bưu chính, viễn thông bắt đầu tham gia dẫn dắt toàn cầu
Người đứng đầu ngành KH&CN, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng mong muốn lĩnh vực bưu chính, viễn thông phải đổi mới cách tiếp cận, cách quản lý nhà nước và tham gia vào dẫn dắt lĩnh vực trên toàn cầu.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Quản lý lĩnh vực bưu chính, viễn thông Việt Nam đã làm tốt trong nước thì nay phải vươn ra quốc tế.
Ngày 10/1/2026, tại Hội nghị triển khai công tác năm 2026 của Khối Bưu chính Viễn thông (BCVT) gồm 6 đơn vị của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết năm 2025 là một năm đặc biệt với Bộ KH&CN mới.
“Đây là năm đầu tiên mà Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ KH&CN được hợp nhất thành một bộ là mang tên là Bộ KH&CN. Sứ mệnh mới, quy mô mới và yêu cầu mới là rất cao. Bộ mới không chỉ là cộng lại của hai tổ chức lại mà tạo ra sự hợp lực, cộng hưởng nơi KH, CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính để phát triển đất nước”.
Ngã rẽ mới của ngành viễn thông
Là người theo suốt công cuộc phát triển của ngành viễn thông nhiều năm qua, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ là ngành không còn “trẻ trung” như trước đây, đang già đi. Ngành viễn thông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và đang đứng trước ngã rẽ mới.
Thành tựu của ngành viễn thông là phổ cập kết nối, cả cố định và di động, đặc biệt là di động, đưa Internet đến mọi người dân, tạo nền móng cho chuyển đổi số (CĐS).
Mô hình tăng trưởng của viễn thông dựa trên thuê bao, lưu lượng, ARPU (doanh thu trung bình trên mỗi người dùng) đã “chạm trần”. Mạng 3G, 4G, nay là 5G chỉ là “G” cao hơn nhưng những giá trị mới tạo ra còn rất ít.
Viễn thông được xác định là hạ tầng của nền kinh tế số. Dữ liệu, AI, kinh tế số bùng nổ nhưng doanh thu viễn thông tăng chậm, chậm hơn là 5, 6 lần so với sự phát triển của nền kinh tế số.
Vấn đề này, theo Bộ trưởng, không phải là do công nghệ mà là mô hình kinh doanh, mô hình phát triển.
Ngành viễn thông vẫn đang tư duy như một ngành cung cấp kết nối, trong khi thế giới đã chuyển sang cung cấp năng lực số. Nếu viễn thông chỉ bán phút gọi hoặc là bán Gigabyte dữ liệu thì giá dịch vụ sẽ ngày càng giảm, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt và giá trị sẽ ngày càng mỏng.
“Ngành sẽ không có tiền để tiếp tục đầu tư mạnh vào hạ tầng. Ngành không thể sống mãi bằng việc bán các “đường ống” (pipeline)”.
Theo Bộ trưởng, mạng lưới của Việt Nam thuộc nhóm tốt nhất trong khu vực và các doanh nghiệp (DN) viễn thông hiện nay có đội ngũ kỹ sư mạnh. So với các DN khác, đội ngũ của các nhà mạng, công ty viễn thông mạnh hơn nhiều, thậm chí mạnh hơn cả các nhóm nghiên cứu.
Người đứng đầu ngành KHCN cho rằng đã đến lúc các công ty viễn thông (telco) phải chuyển sang công ty hạ tầng số (digital infrastructure company).
Điều đó có nghĩa là DN viễn thông không chỉ bán băng thông mà còn phải cung cấp đám mây (cloud), AI, dữ liệu, bảo mật, Internet vạn vật (IoT), nền tảng số và đó như một loại “điện mới” cho các DN và cho xã hội.
"DN viễn thông phải trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói chứ không chỉ là nhà vận hành mạng. Chỉ có DN viễn thông mới có vai “tích hợp”, “đóng gói” các dịch vụ đó. DN viễn thông có vai trò lịch sử để làm được việc này”.
Cũng theo Bộ trưởng, mạng 5G thì không phải để nhanh hơn và để làm được những việc chưa từng làm.
“Nếu 5G chỉ để xem video nét hơn, dữ liệu nhanh hơn thì 5G sẽ thất bại về mặt kinh tế. 5G chỉ có ý nghĩa khi đi vào nhà máy, đi vào cảng biển, đi vào logistics, đi vào y tế, đi vào năng lượng, đi vào đô thị trở thành hạ tầng của sản xuất và dịch vụ giá trị cao”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Điều này đòi hỏi DN viễn thông phải bắt tay sâu với các ngành dọc, hiểu được bài toán sản xuất, hiểu được vận hành của các ngành và hiểu được chi phí của các ngành để tìm cách giảm chi phí cho họ và đồng sáng tạo giải pháp với chính họ chứ không chỉ đi bán SIM.
Bộ trưởng nhấn mạnh một sự chuyển dịch mang tính sống còn là viễn thông không chỉ là hạ tầng kết nối mà phải trở thành hạ tầng năng lực số của nền kinh tế, tức là chuyển từ hạ tầng “a-lô” sang hạ tầng của nền kinh tế và đây được gọi là đổi mới lần thứ hai của Ngành.
Toàn cảnh Hội nghị.
Khai thác lợi thế vô giá
Cũng theo Bộ trưởng, để nắm bắt thời cơ mới, ngành viễn thông không thể đổi mới một mình mà phải là người mở đường cho đổi mới nhiều lĩnh vực.
Viễn thông có lợi thế mà ít ngành nào có. Đó là dữ liệu, hạ tầng rộng khắp, độ phủ, độ tin cậy và có bộ máy ở khắp nơi. Các DN viễn thông Việt Nam có uy tín với người dân nên cung cấp một dịch vụ mới, dữ liệu sẽ luôn nhận được độ tin cậy. Việc này được Bộ trưởng nhận định là vô giá.
Vì vậy, Bộ trưởng cho rằng DN viễn thông không nên làm thay cho các startup, không nên cạnh tranh với các DN công nghệ mà phải mở hạ tầng, mở API, chia sẻ dữ liệu có kiểm soát, trở thành nền tảng cho cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cho hàng chục ngàn DN công nghệ số sáng tạo, giải các bài toán của DN và của xã hội.
Bộ trưởng cho biết, cơ quan quản lý nhà nước về viễn thông sẽ không giữ viễn thông trong vùng an toàn nữa. Nhà nước đã giữ viễn thông trong vùng an toàn suốt nhiều chục năm qua. Bây giờ là phải chuyển từ quản lý hạ tầng viễn thông sang quản trị hạ tầng chiến lược quốc gia.
Vì thế, Bộ trưởng cho biết viễn thông phải sáng tạo. Nhà nước sẽ không làm thay DN nhưng mở đường thể chế cho thử nghiệm mô hình, dịch vụ mới và thất bại có kiểm soát.
“Đây sẽ là nghề mới của quản lý nhà nước về viễn thông. Thay vì cấp phép kiểm tra SIM, quản lý giá bán thoại, bán dữ liệu, quản lý khuyến mại thì giờ đây quản lý mô hình mới, thử nghiệm (sandbox) những dịch vụ mới”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Bộ trưởng nêu rõ: Viễn thông Việt Nam hoàn toàn có thể bước sang một chu kỳ tăng trưởng mới. Bước sang cuộc đổi mới lần hai, sau 40 năm đổi mới lần thứ nhất, viễn thông không phải bằng nhiều thuê bao hơn mà bằng nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế và xã hội.
“Viễn thông phải chuyển từ hạ tầng “a-lô”, hạ tầng thông tin liên lạc sang hạ tầng của nền kinh tế. Viễn thông của 10 năm tới thì không chỉ kết nối con người mà phải kết nối sản xuất, kết nối tri thức và kết nối tương lai. Viễn thông trở thành hạ tầng sản xuất trở thành hạ tầng tri thức. Quản lý nhà nước phải thay đổi thể chế, thay đổi quản lý phải kiến tạo để mang ra sự chuyển đổi này”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Bưu chính phải thay đổi ngay từ khi đang tốt
Đối với lĩnh vực bưu chính cũng là một ngành truyền thống lâu đời, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhận định, 10 năm gần đây, bưu chính tăng trưởng nhanh nhờ thương mại điện tử (TMĐT), nhưng nếu bưu chính không đổi mới ngay từ bây giờ thì bưu chính cũng gặp câu chuyện y như viễn thông và sẽ lại mất 10 năm mới có thể lấy lại được đà tăng trưởng mới.
Bởi vậy, Bộ trưởng cho rằng lĩnh vực bưu chính cần phải thay đổi ngay từ khi đang tốt, tức là ngay từ bây giờ.
Bưu chính cần chuyển trọng tâm từ thư từ, bưu phẩm, bưu kiện sang hạ tầng bưu chính số sang logistics, địa chỉ số, chia sẻ dữ liệu bưu chính, công nghệ giao hàng mới tương thích với TMĐT và nền kinh tế số, tạo không gian bưu chính hoạt động tầm thấp…
Bộ trưởng nhấn mạnh, quản lý nhà nước về bưu chính phải mở ra các không gian mới cho bưu chính ít nhất 4 lần so với hiện tại, tức là mở nguyên tắc, mở sân chơi và đây là mục tiêu của sửa đổi Luật Bưu chính năm 2026.
Chuyển dịch quan trọng nhất của bưu chính là bưu chính số, không gian số, mở rộng các khái niệm mới trên không gian số như: Kho ảo, hệ sinh thái bưu chính số bao gồm giao hàng, logistics, địa chỉ số, dữ liệu số, hoàn tất đơn hàng, hạ tầng kho bãi… Mạng lưới bưu chính phải trở thành mạng lưới hoàn chỉnh, chặng cuối (last mile).
Theo Bộ trưởng, hạ tầng bưu chính có tính mạng lưới giống với mạng viễn thông toàn quốc, có kho lớn giống như các tổng đài lớn ở các trung tâm vùng, có các kho nhỏ giống như các tổng đài nhỏ ở tỉnh và bộ tổ chức thuê bao ở xã, rồi từ đó là chặng cuối.
Do đó, lĩnh vực bưu chính phải mở rộng khái niệm địa chỉ số từ huyện xuống dưới hộ gia đình và cá nhân gắn với bản đồ số, dữ liệu dân cư, không gian số, mở rộng phương tiện truyền phát truyền thống sang các công nghệ mới như là drone, robot, từ giao hàng sang hoàn tất đơn hàng, từ 2kg lên 500kg.
“Dịch vụ bưu chính chính cơ bản chuyển từ bưu phẩm sang TMĐT, giao hàng tại nhà ở vùng sâu, vùng xa và lĩnh vực bưu chính xem xét việc thành lập quỹ bưu chính công ích (BCCI). Quỹ dịch vụ viễn thông công ích (VTCI) đã thành công, theo đó, việc phổ cập dịch vụ viễn thông, vùng phủ sóng của Việt Nam lọt top 10 thế giới, tương đương với các nước đã phát triển”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Một số định hướng mới về quản lý nhà nước lĩnh vực BCVT
Với những định hướng chung cho sự phát triển của lĩnh vực BCVT, Bộ trưởng cũng định hướng cho các đơn vị quản lý lĩnh vực.
Đối với Vụ Bưu chính, Bộ trưởng lưu ý cần mở rộng không gian phát triển cho lĩnh vực lên 4 lần.
Tiếp đó, Cục Viễn thông đổi mới từ quản lý mạng viễn thông sang quản lý hạ tầng số quốc gia, bao gồm viễn thông, Internet, trung tâm dữ liệu (DC), dữ liệu, đám mây, AI, nền tảng số.
Quản lý lĩnh vực viễn thông cần chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo cạnh tranh và thị trường viễn thông thế hệ mới, từ nhà mạng viễn thông truyền thống sang nhà mạng thế hệ mới. Cần đổi mới quản lý từ viễn thông độc lập sang viễn thông gắn chặt với kinh tế - xã hội.
Viễn thông trở thành hạ tầng của nền kinh tế. Nhà mạng viễn thông thế hệ mới là công cụ sản xuất, là phương tiện sản xuất cho DN và nền kinh tế. Các DN sẽ cần dịch vụ của nhà mạng để tạo nên dịch vụ, sản phẩm.
Trong khi đó, lĩnh vực phải đặt mục tiêu về tốc độ di động tối thiểu tại các vùng sâu, vùng xa là 100 MBit/s, đô thị là 200 MBit/s.
“Tốc độ di động tăng gấp đôi thì nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng ít nhất 1% - 2%. Một tỷ lệ khác là tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh phải đạt 100%”.
Đối với Cục Tần số VTĐ, Bộ trưởng lưu ý cần chuyển từ quản lý cấp phép tần số sang quản trị tài nguyên tần số. Quản lý thì đặc trưng là tuân thủ, kiểm soát, bảo toàn và cách tiếp cận là hành chính và thủ tục. Quản trị thì đặc trưng là tạo ra giá trị mới, tạo ra hiệu quả, tạo ra tác động vào nền kinh tế.
Cần đổi mới về quản lý tần số tĩnh sang linh hoạt theo các công nghệ mới và sinh ra nhiều hình thức cấp phép mới, cấp phép theo thời gian thử nghiệm, cấp phép động, cấp phép dùng chung.
Tiếp theo là cần đổi mới từ quản lý kỹ thuật, sáng kiến tạo thị trường và chuẩn mực tần số quốc gia, tạo lập thị trường tần số hiệu quả.
Trong khi đó, đối với Cục Bưu điện Trung ương, Bộ trưởng lưu ý đơn vị cần chuyển sang hạ tầng số phục vụ cho cơ quan Đảng, Chính phủ, truyền dẫn đến cấp xã. Cục có nhiệm vụ thêm là quản lý DC, đám mây, AI cho Chính phủ.
Đối với VNNIC, Bộ trưởng đề nghị phải chuyển từ quản lý tài nguyên sang kiến trúc sư về hạ tầng Internet quốc gia. Nhiệm vụ của VNNIC là phải kiến trúc mạng Internet Việt Nam bền vững, độc lập.
VNNIC cũng có nhiệm vụ giữ dữ liệu, lưu lượng, giá trị Internet ở Việt Nam càng nhiều càng tốt, chuyển đổi từ đơn vị kỹ thuật sang đối tác chiến lược của nền kinh tế số, kết nối sâu với các DN số. VNNIC phải tham gia đình hình “luật chơi” Internet toàn cầu.
Đối với Quỹ VTCI, Bộ trưởng yêu cầu cần tiêu chuẩn hóa các nhiệm vụ công ích. Triển khai nhanh đầu tư hạ tầng, phủ sóng 100% dân số, phổ cập dịch vụ số cơ bản để người dân vùng sâu, xa có thể học từ xa được, khám, chữa bệnh từ xa...
Bộ trưởng lưu ý các đơn vị phải CĐS toàn diện, đưa mọi hoạt động của đơn vị lên môi trường số, xây dựng các nền tảng hướng dùng chung để phục vụ quản lý cũng như kết nối với các đối tượng quản lý, thực hiện truyền thông đại chúng để mọi người dân hiểu, gần gũi với BCVT như hơi thở hàng ngày.
Bộ trưởng cho biết quản lý lĩnh vực BCVT Việt Nam đã làm tốt trong nước thì nay phải vươn ra quốc tế, thiết lập các tiêu chuẩn dẫn dắt “cuộc chơi” trên toàn cầu. “Chúng ta chính thức tuyên bố điều này. Từ nay, lĩnh vực bưu chính, viễn thông bắt đầu tham gia dẫn dắt toàn cầu”./.
