Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng

18:49, 24/07/2026

Bác Hồ kính yêu luôn dành sự quan tâm đặc biệt với thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng - những người hy sinh tính mạng hay một phần thân thể cho công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc. Tình cảm của Người biểu hiện sâu sắc truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

Kể từ ngày nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, tháng 9/1945, đến tháng 5/1969, có khoảng 25 lần Bác Hồ gửi thư thăm hỏi anh chị em thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong nhiều bài nói, bài viết và các bức thư của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định và ghi nhận sự hy sinh cao cả của các thương binh, Anh hùng liệt sĩ. Người nói: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Nơi ghi dấu sự ra đời của ngày “Thương binh toàn quốc” – 27/7. Ảnh Tư liệu ↵

Từ Sắc lệnh số 20/SL đến Ngày thương binh, liệt sĩ

Ngày 19/12/1946, sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến tranh lan rộng ra nhiều vùng. Số người bị thương và tử nạn tăng lên rất nhanh do sự chênh lệch về trang bị vũ khí cũng như những chiến thuật chiến đấu. Đời sống của binh lính lúc đó, nhất là những binh sỹ bị thương, gia đình liệt sĩ gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông báo “về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi”.

Thông báo có đoạn viết: “Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”. Người đã yêu cầu các làng, chính quyền địa phương lập danh sách, xem xét, nếu đúng sự thật thì “đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Văn phòng Chủ tịch Chính phủ ở Hà Nội".

Ngày 16/2/1947, trên cương vị Chủ tịch nước, Người ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tử tuất. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên đặt nền tảng cho chính sách thương binh, liệt sĩ của nước ta.

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp đã thu hút nhiều thanh niên tham gia chiến đấu. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình ấy, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh.

Bác Hồ dâng hương, đặt vòng hoa ở tượng đài liệt sĩ tại Hà Nội (31/12/1954). Ảnh Tư liệu.

Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Bác, một hội nghị trù bị của Trung ương tổ chức tại xã Phú Ninh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (cũ), đã nhất trí lấy ngày 27/7 là “Ngày thương binh toàn quốc”. Đến tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi ngày này thành ngày “Thương binh - liệt sĩ” và tên gọi đó được trân trọng lưu giữ cho đến hiện nay.

Khi phong trào “đền ơn đáp nghĩa” đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được phát động và triển khai, Bác luôn tiên phong gương mẫu thực hiện. Người viết trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” tháng 7/1947: “Ngày 27/7 là một ngày kỷ niệm. Mỗi năm đến ngày ấy, thì những người ái quốc Việt Nam càng tưởng nhớ đến anh em thương binh, tưởng nhớ đến các liệt sĩ, tưởng nhớ đến những người vô danh anh hùng, hoặc đã hy sinh tính mệnh, hoặc đã góp phần xương máu trong cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc ta...”. 

Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là 1127 đồng để tặng thương binh.

Đến ngày 3/10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh (tiền thân của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) để chuyên trách chăm lo đến thương binh, liệt sĩ. Sắc lệnh trên là cơ sở để thực hiện đồng bộ trong cả nước về chế độ, chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, Nhân dân đối với những người có công với cách mạng.

Trải qua hàng chục năm chiến đấu cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, hàng triệu đồng bào ta đã hy sinh, hàng chục vạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình. Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Người căn dặn: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh hùng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các anh hùng liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại cho chúng ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết các đồng chí thương binh hỏng mắt (năm 1956). Ảnh Tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là nghĩa cử cao đẹp, là trách nhiệm

Người cũng chỉ ra rằng, công việc chăm sóc thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ vừa là nghĩa cử cao đẹp, vừa là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Công việc đó cần phải thiết thực, có tổ chức và thể hiện trong mọi hoàn cảnh, mọi đơn vị, mọi làng xã. Và quan trọng hơn là công việc đền ơn đáp nghĩa không phải chỉ thực hiện trong ngày một ngày hai, chỉ trong những ngày lễ tết, mà phải duy trì liên tục và duy trì mãi mãi: “Tôi mong và chắc rằng: Đồng bào trước đã giúp đỡ, sau này sẽ sẵn sàng giúp đỡ mãi”.

Sau này, mặc dù bận rộn với nhiều công việc quan trọng của đất nước nhưng Bác vẫn thường xuyên nhắc nhở các địa phương phải thực hiện nghiêm chỉnh những chủ trương, chính sách của Nhà nước dành cho thương binh, liệt sĩ: “Tôi nhắc các cơ quan, đoàn thể phải chấp hành một cách chu đáo các chính sách của Đảng và Chính phủ đối với anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ... Nhiều nơi đồng bào đã hiểu đúng và làm như vậy. Nhưng cũng còn một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi mong rằng đồng bào, đoàn thể và cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã từng hy sinh cho nước nhà”.