Giảm lãi suất, động lực cho doanh nghiệp "bứt tốc" dịp cuối năm
Giảm lãi suất đang mở thêm dư địa hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn nước rút cuối năm 2026. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng, bài toán không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.
Mặt bằng lãi suất đang đứng trước một đợt điều chỉnh đáng chú ý khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm chi phí huy động, đồng thời triển khai giải pháp hạ lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Trong bối cảnh doanh nghiệp cần bổ sung vốn lưu động, hoàn thành đơn hàng và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh cho năm 2027, động thái này được kỳ vọng sẽ tạo thêm lực đẩy cho hoạt động kinh tế.
Tạo dư địa giảm chi phí vốn
Những ngày vừa qua, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm %/năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết từ kỳ hạn 6 tháng trở lên. Tiếp đó, tại cuộc họp với lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại, cơ quan điều hành yêu cầu tập trung triển khai các giải pháp giảm 1,5–2 điểm %/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Đây được xem là bước đi nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn, hỗ trợ nền kinh tế trong những tháng cuối năm.
Trong khi diễn biến trên thị trường cho thấy yêu cầu điều hành đã nhanh chóng được chuyển hóa thành các chương trình cụ thể. Theo đó, ngày 20/10, Vietcombank triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay từ 1,5–2 điểm %/năm, áp dụng từ ngày 19/10 đến hết ngày 31/12/2026; một số khoản vay ngắn hạn thuộc lĩnh vực ưu tiên được giảm tới 3 điểm phần trăm so với mức hiện hành. Ngân hàng cũng điều chỉnh giảm 0,5 điểm %/năm lãi suất huy động niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Cùng thời điểm, Vietbank triển khai gói tín dụng 3.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1,5 điểm %/năm so với mức thông thường.

Ảnh: Minh họa
Trước đó, Agribank thông báo từ ngày 19/10 triển khai giảm lãi suất cho vay tới 2 điểm %/năm so với mức thông thường, tập trung vào lĩnh vực ưu tiên và khách hàng sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng dự kiến dành khoảng 2.000 tỷ đồng từ nguồn lực tài chính để hỗ trợ khách hàng. Đồng thời, chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng tiếp tục được triển khai với mức lãi suất thấp hơn 1–2 điểm %/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Với BIDV, chương trình tín dụng ưu đãi triển khai từ ngày 15/10/2026 áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam, với lãi suất từ 6%/năm, giảm tới 2 điểm %/năm so với mức thông thường, tùy kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Trong khi, HDBank cũng nhanh chóng triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn cuối năm. Từ ngày 20/10 đến hết ngày 30/11/2026 hoặc khi đạt quy mô chương trình, ngân hàng dành gói tín dụng 10.000 tỷ đồng, giảm 1,5 điểm%/năm so với mức lãi suất ưu đãi đang áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay từ 8%/năm đối với kỳ hạn đến hai tháng và từ 8,7%/năm đối với kỳ hạn trên hai đến ba tháng. Chương trình tập trung vào nhu cầu vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh, với điều kiện khách hàng đáp ứng yêu cầu về xếp hạng tín dụng và quy định cấp tín dụng của ngân hàng.
Những chương trình giảm lãi suất cho vay mở ra cơ hội giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp đang cần vốn để nhập nguyên liệu, thanh toán nhà cung cấp, trả chi phí vận hành hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Với các doanh nghiệp có tỷ trọng vốn vay lớn, ngay cả mức giảm lãi suất tương đối nhỏ cũng có thể tạo ra khoản tiết kiệm đáng kể nếu dư nợ lớn và thời gian vay kéo dài.
Từ góc độ điều hành, giảm lãi suất huy động là một trong những cách tạo dư địa hạ lãi suất cho vay. Khi chi phí đầu vào giảm, ngân hàng có thêm điều kiện điều chỉnh giá vốn cho khách hàng. Tuy nhiên, mức giảm thực tế còn phụ thuộc vào chi phí hoạt động, chất lượng tài sản, rủi ro tín dụng, kỳ hạn nguồn vốn và chính sách của từng tổ chức tín dụng.
Số liệu NHNN được công bố tại cuộc họp ngày 19/10 cho thấy, tính đến ngày 14/10/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,72 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và tăng 16,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, đến ngày 19/10, huy động vốn tăng 11,22%, còn tín dụng tăng 11,44% so với cuối năm 2025. Chênh lệch giữa hai tốc độ tăng trưởng tuy không lớn nhưng cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn vẫn cần được theo dõi.
Vì vậy, giảm lãi suất không đồng nghĩa ngân hàng có thể nới lỏng mọi điều kiện tín dụng. Các tổ chức tín dụng vẫn phải bảo đảm thanh khoản, kiểm soát chất lượng khoản vay và cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động với nhu cầu cho vay, đặc biệt đối với các khoản đầu tư trung và dài hạn.
Vốn rẻ cần đi cùng khả năng hấp thụ
Với doanh nghiệp, lãi suất giảm chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng khả năng tiếp cận vốn. Trên thực tế, không phải đơn vị nào cũng đáp ứng được các yêu cầu về tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính, lịch sử tín dụng và phương án kinh doanh. Những doanh nghiệp có dòng tiền thiếu ổn định, tồn kho lớn hoặc công nợ kéo dài vẫn có thể gặp khó khăn ngay cả khi mặt bằng lãi suất đi xuống.
Bởi vậy, việc triển khai chính sách cần hướng đến tính thực chất thay vì chỉ dừng ở mức lãi suất công bố. Ngân hàng cần minh bạch điều kiện hưởng ưu đãi, thời gian áp dụng, đối tượng vay, các khoản phí liên quan và cơ chế điều chỉnh lãi suất sau ưu đãi. Doanh nghiệp cũng cần được đánh giá dựa trên dòng tiền, khả năng tạo doanh thu và tính khả thi của phương án sử dụng vốn, đồng thời vẫn phải bảo đảm các nguyên tắc an toàn tín dụng.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu, giai đoạn cuối năm thường kéo theo nhu cầu vốn để tăng hàng tồn kho, hoàn tất đơn hàng, thanh toán nguyên liệu và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh cho năm sau. Nếu tiếp cận được nguồn vốn phù hợp với chi phí thấp hơn, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, duy trì việc làm và nắm bắt cơ hội thị trường.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên xem giảm lãi suất là lý do để mở rộng vay vốn bằng mọi giá. Quyết định vay cần dựa trên nhu cầu thực tế, dòng tiền dự kiến và khả năng trả nợ trong các kịch bản khác nhau. Một khoản vay có lãi suất thấp nhưng được sử dụng thiếu hiệu quả vẫn có thể làm gia tăng rủi ro tài chính.
Về phía ngân hàng, bên cạnh điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay, việc tiết giảm chi phí hoạt động, ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả quản trị và phân bổ vốn theo chất lượng dự án sẽ quyết định dư địa hỗ trợ khách hàng trong dài hạn. Cơ quan quản lý cũng cần theo dõi việc thực hiện các chương trình ưu đãi, đồng thời giữ kỷ luật tín dụng để hạn chế nguy cơ vốn chảy vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.
Giảm lãi suất có thể là “liều thuốc” trợ lực cho doanh nghiệp trong giai đoạn nước rút cuối năm 2026, nhưng không phải giải pháp duy nhất. Hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa mức giảm lãi suất thành chi phí vốn thấp hơn, khả năng tiếp cận tín dụng rộng hơn và hiệu quả sử dụng vốn cao hơn.
