Khoa học công nghệ tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản

22:22, 28/09/2026

9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 7,8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các ngành hàng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang nâng chất lượng, giá trị gia tăng, chế biến sâu và ứng dụng khoa học - công nghệ.

Khoa học công nghệ tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản- Ảnh 1.

Công nghệ giống cây trồng góp phần nâng cao chất lượng sản xuất của ngành lâm nghiệp nói riêng và ngành trồng trọt nói chung - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Khoa học - công nghệ phải giải bài toán của ngành

9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu đạt khoảng 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực là sự phân hóa rõ giữa các ngành hàng.

Thặng dư nhóm nông sản giảm 27,7%, còn 4,32 tỷ USD; trong khi sản phẩm chăn nuôi nhập siêu khoảng 3,43 tỷ USD, tăng 20,9%. Một số ngành hàng vẫn phụ thuộc lớn vào một vài thị trường. Trung Quốc chiếm khoảng 63% kim ngạch xuất khẩu rau quả, 58,7% cao su và khoảng 91% sắn; trong khi khoảng 50,1% kim ngạch gỗ và sản phẩm gỗ tập trung tại Hoa Kỳ.

Những con số này cho thấy bài toán của ngành không chỉ là mở thêm thị trường, mà còn phải thay đổi cách tổ chức sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Thị trường cần trở thành tín hiệu đầu vào của sản xuất, thay vì chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm sau khi đã sản xuất.

Với cà phê, hướng đi là chuyển từ tăng lượng sang tăng giá trị thông qua nâng chất lượng, phân loại, rang xay, cà phê hòa tan, cà phê đặc sản và xây dựng thương hiệu. Với gạo, bên cạnh duy trì thị trường, cần tăng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao và mở rộng thị trường ngoài các thị trường truyền thống.

Đối với rau quả, thay vì chủ yếu xuất khẩu quả tươi, ngành cần khai thác tốt hơn giá trị từ cùng một nguồn nguyên liệu. Sầu riêng là một ví dụ: bên cạnh quả tươi, dư địa còn nằm ở sản phẩm đông lạnh, puree, sấy và các sản phẩm chế biến khác.

Trong quá trình đó, khoa học - công nghệ đang được đặt trực tiếp vào những bài toán của sản xuất và thị trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới đây đề nghị các cơ quan, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược. Các đề xuất được yêu cầu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, thị trường và lợi thế của ngành, địa phương; ưu tiên những nhiệm vụ có khả năng làm chủ công nghệ, tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao, có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và nhân rộng.

Điều này cho thấy cách tiếp cận đang chuyển từ "nghiên cứu để có kết quả" sang "nghiên cứu để giải quyết vấn đề và tạo giá trị". Công nghệ phải trả lời những câu hỏi cụ thể: làm thế nào nâng chất lượng, giảm tổn thất sau thu hoạch, chế biến sâu, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, kiểm soát dư lượng, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và dự báo tốt hơn nhu cầu thị trường.

Cùng với công nghệ sản xuất, dữ liệu về vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc, logistics và thị trường cũng cần được kết nối, tạo nền tảng cho một hệ thống sản xuất và xuất khẩu hiện đại hơn.

Từ "mở cửa thị trường" đến "giữ được thị trường"

Phía sau mức tăng trưởng xuất khẩu chung là những tín hiệu cho thấy dư địa tăng trưởng bằng sản lượng đang thu hẹp.

Trong 9 tháng, lượng cà phê xuất khẩu tăng 15,4%, đạt khoảng 1,44 triệu tấn, nhưng kim ngạch lại giảm 7,3%, còn 6,54 tỷ USD do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Tương tự, xuất khẩu gạo giảm cả lượng và giá trị: lượng giảm 6,1%, còn khoảng 6,4 triệu tấn; kim ngạch giảm 10,9%, xuống khoảng 3,11 tỷ USD.

Những con số này cho thấy bán nhiều hơn chưa đồng nghĩa với thu về nhiều hơn. Giá trị của nông sản ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, chế biến, tiêu chuẩn, thương hiệu và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Để đạt mục tiêu xuất khẩu 74,212 tỷ USD trong năm 2026, ba tháng cuối năm ngành nông nghiệp cần thêm khoảng 17,91 tỷ USD, tương đương bình quân gần 5,97 tỷ USD mỗi tháng. Gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả, cao su và sản phẩm chăn nuôi được dự báo có khả năng đạt hoặc vượt kế hoạch; trong khi cà phê, hạt điều, sắn và chè vẫn chịu sức ép.

Cùng với duy trì các ngành hàng có lợi thế, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục đa dạng hóa thị trường, khai thác tốt hơn các thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước CPTPP, RCEP; đồng thời mở rộng dư địa tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

Song song với mở rộng thị trường là tháo gỡ các điểm nghẽn về tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, tín dụng, logistics và kho lạnh; tăng liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu.

Định hướng xuyên suốt là chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuyển đổi số; lấy thị trường làm định hướng, chất lượng và tiêu chuẩn làm nền tảng, doanh nghiệp làm trung tâm và người sản xuất là chủ thể.

Xa hơn, đưa khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào trung tâm không chỉ để đạt một con số xuất khẩu trong một năm, mà nhằm thay đổi năng lực cạnh tranh của toàn ngành: từ bán những gì đang có sang tạo ra sản phẩm thị trường cần; từ xuất khẩu nguyên liệu sang làm chủ nhiều hơn các khâu tạo giá trị; từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về công nghệ, chất lượng và thương hiệu.