Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) mở ra vị thế điện hạt nhân của Việt Nam
Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) không chỉ tạo hành lang pháp lý cho việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân quốc gia, mà còn được kỳ vọng định hình lại vị thế của Việt Nam về mặt công nghệ và tiềm lực, có tên trên bản đồ thế giới là quốc gia có điện hạt nhân.
Từ ngày 01/01/2026, Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) chính thức có hiệu lực, được kỳ vọng mở đường cho việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero). Trao đổi với Tạp chí Tin học và Đời sống, PGS. TS Nguyễn Nhị Điền, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Chủ tịch Hội Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đã phân tích những điểm cốt lõi của đạo luật này.

PGS. TS Nguyễn Nhị Điền, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Chủ tịch Hội Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân
Hành lang pháp lý cho tái khởi động điện hạt nhân
PV: Thưa ông, Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa tổng thể của đạo luật này đối với chiến lược phát triển năng lượng và khoa học - công nghệ của Việt Nam?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Tháng 6/2008, lần đầu tiên Việt Nam ban hành bộ Luật về năng lượng nguyên tử (NLNT), có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, đã tạo ra hành lang pháp lý cần thiết và quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đẩy mạnh ứng dụng NLNT vào mục đích hòa bình, đảm bảo an toàn bức xạ, an toàn và an ninh hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng hạt nhân cho quốc gia.
Tuy nhiên, sau gần 17 năm thực hiện, Luật năm 2008 đã bộc lộ một số bất cập, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam cần gấp rút triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về tái khởi động chương trình điện hạt nhân quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện chiến lược phát triển năng lượng dài hạn.
Luật NLNT sửa đổi được ban hành ngày 27/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, là cơ sở pháp lý cao nhất để đưa điện hạt nhân trở lại vị trí quan trọng trong an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Luật cũng quy định rõ trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý an toàn hạt nhân quốc gia, còn Bộ Công Thương chịu trách nhiệm về quy hoạch, đầu tư và vận hành nhà máy điện hạt nhân. Đáng chú ý, luật tiếp cận khá toàn diện theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn về an toàn, an ninh của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA).
Đạo luật NLNT năm 2025 không chỉ là tiền đề quan trọng để xây dựng quy hoạch điện quốc gia đến năm 2050 mà còn là cơ sở để phát triển tiềm lực hạt nhân quốc gia gồm cơ sở hạ tầng hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ quốc gia để làm chủ các công nghệ chiến lược trong lĩnh vực NLNT, nâng cao năng lực và hiệu quả đảm bảo an toàn bức xạ, an toàn và an ninh hạt nhân, khẳng định cam kết trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại hạt nhân, cam kết minh bạch về thông tin và hỗ trợ cộng đồng dân cư nơi có nhà máy điện hạt nhân, qua đó tăng cường niềm tin trong hợp tác quốc tế để chuyển giao công nghệ và từng bước làm chủ công nghệ điện hạt nhân.
PV: Luật lần này đưa điện hạt nhân trở thành một nội dung trong chiến lược năng lượng quốc gia. Theo ông, việc “luật hóa” điện hạt nhân có ý nghĩa gì trong bối cảnh Việt Nam cần bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết giảm phát thải carbon?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Điện hạt nhân là lĩnh vực đòi hỏi mức độ an toàn và an ninh rất cao, không chỉ đối với quốc gia vận hành mà còn với cả khu vực và vùng lãnh thổ. Vì vậy, việc triển khai các dự án điện hạt nhân phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, quy định chung của quốc tế và cần được nội luật hóa thì nhà cung cấp công nghệ mới chấp nhận đầu tư, IAEA mới đồng thuận cho thực hiện dự án.

Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nơi đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ sư và từng bước hình thành năng lực làm chủ công nghệ hạt nhân của Việt Nam. Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân
Mỗi giai đoạn của dự án phải được phê duyệt hoặc cấp phép và chủ thể phê duyệt hoặc cấp phép cũng phải được quy định, đó là phê duyệt chủ trương đầu tư dự án, dự án đầu tư, địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thiết kế xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cấp giấy phép vận hành thử tổ máy điện hạt nhân, cấp giấy phép vận hành, cấp giấy phép chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân do Bộ KH&CN.
Về mặt kỹ thuật, tổ máy điện hạt nhân có hiệu suất sử dụng cao trên 90%, bởi lẽ cấp nguồn điện nền ổn định về công suất liên tục trong 2 năm chỉ dừng khoảng 1 tháng để tái nạp nhiên liệu. Vì vậy, điện hạt nhân là nguồn điện nền lý tưởng so với các nguồn điện nền khác hiện nay như thủy điện, điện khí, điện than. Do đó, để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050, vai trò của điện hạt nhân là không thể thay thế.
Từ tiếp nhận đến làm chủ công nghệ hạt nhân
PV: Một điểm nhấn quan trọng của luật là yêu cầu ưu tiên chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao và từng bước làm chủ công nghệ điện hạt nhân. Theo ông, đây có phải là bước chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ trong lĩnh vực NLNT hay không?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Trong lĩnh vực điện hạt nhân, hiện nay chỉ có một số rất ít quốc gia nắm giữ công nghệ nguồn như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Pháp hay Canada, trong khi trên thế giới có hơn 30 quốc gia đang vận hành nhà máy điện hạt nhân. Vì vậy, từ chuyển giao công nghệ để làm chủ công nghệ là chính sách mà nhiều nước đã áp dụng thành công như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,…
Từ giai đoạn tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ là cả một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ cả về hạ tầng kỹ thuật, con người và thể chế. Để thực hiện được quá trình chuyển đổi này, cần tập trung vào một số yếu tố then chốt. Thứ nhất, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đội ngũ kỹ sư vận hành, bảo dưỡng đến các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản và chuyên sâu về điện hạt nhân với các hình thức đào tạo phù hợp thông qua các nước chuyển giao công nghệ và đào tạo qua công việc (on-the-job-training).
Thứ hai, phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ để nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ qua các phòng thí nghiệm trọng điểm, các trung tâm nghiên cứu chuyên ngành hạt nhân hiện đại để thử nghiệm vật liệu, nhiên liệu, tiến tới có năng lực thiết kế các bộ phận, hệ thống phụ trợ và các thành phần chính của lò phản ứng.
Thứ ba, nội địa hóa chuỗi cung ứng thông qua các doanh nghiệp chế tạo thiết bị cơ khí, điện tử - tự động hóa,… Quá trình này không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào bên ngoài mà còn thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Thứ tư, khung pháp lý và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được ban hành trên cơ sở tham khảo tài liệu của các nước chuyển giao công nghệ và của IAEA. Bên cạnh các yếu tố trên, việc cam kết của quốc gia về đầu tư lâu dài và ổn định là cần thiết, thể hiện qua các chiến lược, quy hoạch nhất quán, có lộ trình xuyên suốt qua nhiều thập kỷ theo vòng đời khoảng 60 - 80 năm của nhà máy điện hạt nhân.
Luật NLNT 2025 đã khẳng định rõ chính sách ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, thân thiện với môi trường, đồng thời tăng cường năng lực chế tạo và nội địa hóa trang thiết bị. Đồng thời Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến chiến lược phát triển năng lượng, an ninh năng lượng, các chính sách đặc thù cho điện hạt nhân, chính sách đầu tư phát triển nguồn lực và thu hút chuyên gia, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia,… đó là cơ sở quan trọng cho bước chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
PV: Luật cũng đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong xây dựng và chế tạo thiết bị hạt nhân. Theo ông, quy định này sẽ tác động như thế nào tới hệ sinh thái công nghiệp, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực trong nước?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Trong Luật NLNT 2025, mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa không chỉ đơn thuần là thay thế thiết bị ngoại nhập bằng thiết bị nội địa mà được xem là một chiến lược để nâng cao năng lực quốc gia về mặt tổng thể. Mục tiêu này sẽ tạo ra những tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác.
Trước hết, hệ sinh thái công nghiệp sẽ từng bước được chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, độ chính xác, độ bền và mức độ an toàn của sản phẩm, qua đó thúc đẩy sự hình thành các chuỗi cung ứng công nghệ cao. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, riêng tại Pháp đã có khoảng 2.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng cho ngành điện hạt nhân, minh chứng cho vai trò lan tỏa của lĩnh vực này đối với công nghiệp hỗ trợ.
Cùng với đó, khoa học - công nghệ sẽ có bước đột phá, xuất hiện nhiều sáng tạo, người vận hành thiết bị sẽ trở thành người thiết kế, chế tạo thiết bị. Quan trọng hơn, quá trình nội địa hóa còn góp phần hình thành nguồn nhân lực trong nước đa ngành, nhiều chuyên gia giỏi, không chỉ ngành hạt nhân mà có nhiều lĩnh vực khác như vật liệu mới, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo,…
An toàn là ưu tiên cao nhất
PV: An toàn bức xạ, an toàn và an ninh hạt nhân luôn là mối quan tâm lớn của xã hội. Luật NLNT (sửa đổi) đã tiếp cận vấn đề này ra sao để bảo đảm phát triển điện hạt nhân an toàn, bền vững và tạo sự yên tâm cho người dân?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Để phát triển điện hạt nhân một cách an toàn và bền vững, bộ Luật NLNT 2025 đã tiếp cận dựa trên triết lý chung của quốc tế và hướng dẫn của IAEA "An toàn là ưu tiên cao nhất" cùng với yêu cầu của các cấp trong nước là “An toàn tuyệt đối”.
Điều đó được thể hiện cụ thể trong Luật. Theo đó, luật quy định rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành về quản lý an toàn và an ninh trong quá trình triển khai thực hiện các dự án điện hạt nhân. Tách biệt vai trò của 3 trụ cột là Cơ quan pháp quy, Chủ đầu tư/ Cơ quan vận hành và Cơ quan R&D/Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật về an toàn.
Luật cũng định chặt chẽ công tác quản lý an toàn cho toàn bộ vòng đời của dự án điện hạt nhân. Ngoài 2 giai đoạn phê duyệt chủ trương đầu tư của nghiên cứu tiền khả thi và dự án đầu tư của nghiên cứu khả thi theo quy định của bộ Luật đầu tư, Luật NLNT tuân thủ hướng dẫn của IAEA quy định chặt chẽ 6 giai đoạn cho dự án điện hạt nhân là phê duyệt địa điểm, phê duyệt thiết kế, cấp phép xây dựng, cấp phép vận hành thử, cấp phép vận hành và cấp phép chấm dứt vận hành vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định vấn đề về minh bạch thông tin và tham vấn cộng đồng, là yếu tố đặc biệt quan trọng để đảm bảo niềm tin bền vững của người dân, đặc biệt là người dân địa phương. Các thông tin về số liệu quan trắc phóng xạ môi trường, quản lý an toàn bức xạ của nhà máy, giám sát của cơ quan pháp quy,… cũng được luật hóa.
Cuối cùng, luật nhấn mạnh việc tuân thủ các quy định an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân của IAEA bằng việc cam kết tham gia vào các công ước quốc tế, nội luật hóa các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật từ các tài liệu của IAEA/ các nước cung cấp tổ máy điện hạt nhân để áp dụng trong quá trình thiết kế, xây dựng và vận hành nhà máy.

PGS. TS Nguyễn Nhị Điền giới thiệu về lịch sử Viện Nghiên cứu hạt nhân cho đại biểu quốc tế. Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân
PV: Từ góc nhìn dài hạn, ông kỳ vọng Luật NLNT (sửa đổi) sẽ tạo ra những chuyển biến căn bản nào cho ngành năng lượng Việt Nam trong 10-20 năm tới, và đâu là điều kiện then chốt để luật đi vào cuộc sống hiệu quả?
PGS. TS Nguyễn Nhị Điền: Trước hết, bộ Luật NLNT 2025 ra đời là một trong các yếu tố quyết định để tái khởi động và phát triển chương trình điện hạt nhân quốc gia thành công và hiệu quả. Trong tầm nhìn 10-20 năm tới, đạo luật này không chỉ thay đổi cơ cấu nguồn điện mà còn định hình lại vị thế của quốc gia về mặt công nghệ và tiềm lực, có tên trên bản đồ thế giới là quốc gia có điện hạt nhân. Về mặt dài hạn hơn là an ninh năng lượng quốc gia với nguồn điện nền ổ định. Về mặt đóng góp vào biến đổi khí hậu toàn cầu là thay thế dần nguồn điện than để hiện thực hóa cam kết của Việt Nam giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Tuy bộ Luật NLNT 2025 đã có tiến bộ rất nhiều so với bộ Luật NLNT 2008 và là điều kiện cần để triển khai thực hiện các dự án điện hạt nhân mà trước mắt là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, nhưng để bộ Luật đi vào cuộc sống hiệu quả thì một số điều chỉnh là cần thiết.
Theo Luật NLNT 2025 thì Bộ KH&CN thực hiện vai trò của Cơ quan pháp quy quốc gia với cơ quan chuyên môn là Cục An toàn bức xạ, hạt nhân. Sau khi sáp nhập Vụ NLNT, Cục An toàn bức xạ, hạt nhân hiện nay lại có thêm chức năng quản lý nhà nước về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử quốc gia. Thực tế nêu trên theo IAEA thì Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia chưa hoàn toàn độc lập.
Sau 8 năm dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, có sự hụt hẫng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân của quốc gia. Vì vậy, điều kiện then chốt hiện nay là công tác đào tạo nguồn nhân lực. Quyết định 1012/2025/QĐ-TTg được ban hành và đang triển khai thực hiện. Tuy nhiên, cần phải có những hành động cụ thể và quyết liệt hơn từ các cấp thì mới đáp ứng được nguồn nhân lực vận hành cho các nhà máy điện hạt nhân trong 10 năm tới.
Trân trọng cảm ơn ông!
Theo Tạp chí in số 1 tháng 2/2026
