Thách thức mới đối với quy hoạch sân bay Việt Nam
Hội thảo khoa học nhận diện những thách thức mới và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy hoạch phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay Việt Nam.
Ngày 1/12 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam và Học viện Hàng không Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Chính sách đầu tư phát triển cảng hàng không, sân bay Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đối với thực tế phát triển của ngành hàng không Việt Nam”.
Sự kiện diễn ra theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với hơn 100 đại biểu là lãnh đạo các bộ, ngành, chuyên gia, nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp, cùng đội ngũ giảng viên, sinh viên Học viện Hàng không Việt Nam tham dự tại các điểm cầu.
Ông Nguyễn Quyết Chiến, Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, phát biểu tại hội thảo.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quyết Chiến, Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nhấn mạnh hàng không là ngành có vai trò đặc biệt trong kết nối vùng miền, thúc đẩy logistics, du lịch, thương mại và hội nhập quốc tế.
“Một quốc gia muốn bay cao thì trước hết phải có đôi cánh vững chắc”, ông Chiến dẫn lại quan niệm quen thuộc trong ngành, cho rằng hệ thống cảng hàng không - sân bay chính là “đôi cánh” đó.
Theo ông, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành trung tâm kết nối của khu vực, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 được phê duyệt tại Quyết định 648/QĐ-TTg ngày 7/6/2023 và các quyết định tiếp theo của Bộ Xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Quy hoạch hướng tới mục tiêu đến năm 2030, cả nước có 33 cảng hàng không, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hiện đại về công nghệ, toàn diện về dịch vụ, bền vững về môi trường và hiệu quả về đầu tư.
Toàn cảnh chương trình hội thảo.
Tổng Thư ký Nguyễn Quyết Chiến khẳng định, hội thảo là hoạt động cụ thể hóa nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam theo Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các ý kiến khoa học tại đây sẽ là kênh tham khảo quan trọng cho các cơ quan quản lý trong quá trình hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện quy hoạch.
Trình bày tham luận đề dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Hằng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, cho biết hội thảo nằm trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu cấp bộ do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì.
Theo phân công, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam là đơn vị được giao triển khai nhiệm vụ phản biện xã hội đối với các chính sách và quy hoạch phát triển cảng hàng không - sân bay. Học viện Hàng không Việt Nam, với tư cách thành viên của Hội, đảm nhận vai trò nhóm nghiên cứu nòng cốt, trực tiếp tổ chức điều tra, phân tích và tổng hợp.
Tiến sĩ Hải Hằng cho biết, ngoài lực lượng chuyên gia của Học viện, đề tài còn thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đến từ Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, các Cảng vụ hàng không và các tập đoàn, doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng sân bay.
Từ nguồn lực đó, nhóm đã xây dựng cấu trúc nghiên cứu gồm 17 chuyên đề, bao quát từ cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế cho tới phân tích thực trạng và đề xuất nhóm giải pháp, chính sách.
Theo bà Hằng, hội thảo lần này nhằm đạt ba mục tiêu: bước đầu tổng kết kết quả triển khai đề tài; đánh giá những nội dung nhóm nghiên cứu đã thực hiện; và lắng nghe thêm ý kiến từ các bên liên quan để hoàn thiện báo cáo phản biện.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Hằng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, trình bày báo cáo đề dẫn tại hội thảo.
Bối cảnh mới, thách thức mới đối với quy hoạch sân bay
Phân tích bối cảnh quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Hằng cho rằng Việt Nam đang ở trong một khu vực có cục diện địa chính trị phức tạp, kéo theo sự dịch chuyển mạnh mẽ của các chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó có lĩnh vực hàng không.
Bà dẫn ví dụ về một tập đoàn bảo dưỡng tàu bay lớn trong khu vực đã đăng ký đầu tư tại Cảng hàng không Vân Đồn, với định hướng xây dựng nơi đây thành trung tâm bảo dưỡng quy mô toàn cầu, phục vụ các hãng hàng không lớn như United Airlines. Riêng giai đoạn đầu, nhà đầu tư dự kiến cần tới khoảng 1.000 kỹ sư và kỹ thuật viên bảo dưỡng làm việc tại Việt Nam.
Một yếu tố quan trọng khác là cam kết Net Zero vào năm 2050. Từ khoảng năm 2030, ngành hàng không sẽ phải bước vào giai đoạn thực hiện bắt buộc các chỉ tiêu trung gian, tạo áp lực lớn về chuyển đổi năng lượng, sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF).
Trong khi đó, chi phí nhiên liệu xanh hiện cao gấp 2,5 - 3 lần nhiên liệu truyền thống, đặt ra bài toán cạnh tranh không dễ giải đối với các hãng hàng không Việt Nam trên các đường bay quốc tế, nhất là khi tương lai gần, đường sắt tốc độ cao có thể chia sẻ đáng kể thị phần vận tải nội địa.
Song song với đó là làn sóng cách mạng công nghệ với sự xuất hiện của các mô hình vận tải mới như thiết bị bay không người lái (UAV), phương tiện bay điện cất hạ cánh thẳng đứng (eVTOL), kinh tế tầm thấp… làm thay đổi sâu sắc bức tranh vận tải và logistics. Những biến động này, theo nhóm nghiên cứu, cần được phản ánh đầy đủ hơn trong các kịch bản quy hoạch và chính sách hiện hành.
Ở trong nước, giai đoạn 2021 - 2030 được Đảng và Nhà nước xác định là thời kỳ tăng tốc, trong đó hệ thống văn bản pháp lý cơ bản về phát triển cảng hàng không - sân bay đ&atil
