Vị thế mới của Việt Nam trong cuộc đua tài chính số khu vực châu Á
Thay vì sao chép mô hình của các trung tâm tài chính lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể khẳng định vị thế riêng trong cuộc đua tài chính số châu Á bằng cách biến hạ tầng công nghệ thành giá trị thực cho nền kinh tế sản xuất và thương mại rộng lớn của mình.
- Việt Nam nổi lên trên bản đồ bất động sản hàng hiệu châu Á - Thái Bình Dương
- Google hỗ trợ 16 dự án AI xanh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương
- BSR trao thỏa thuận khung mua dầu thô với ExxonMobil Châu Á - Thái Bình Dương, mở rộng nguồn cung cho NMLD Dung Quất
- Khai mạc Hội nghị đối thoại Châu Á – Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực
- Nâng cao kỹ năng số, tiếp cận thị trường châu Âu qua thương mại điện tử

Ảnh minh hoạ: Vị trí đáng hướng tới của Việt Nam trong bản đồ tài chính số châu Á không chỉ là một thị trường đông người dùng.
Tài sản số và các công nghệ tài chính mới ngày càng gắn chặt với dòng tiền cũng như hoạt động kinh tế thực. Trước làn sóng này, giới chuyên gia cho rằng bài toán cốt lõi của Việt Nam hiện nay không còn dừng lại ở yếu tố công nghệ thuần túy, mà nằm ở việc xây dựng một hạ tầng đủ tin cậy, có khả năng kết nối linh hoạt và kiến tạo giá trị thực cho doanh nghiệp cùng toàn bộ nền kinh tế.
KHI TÀI CHÍNH SỐ BƯỚC VÀO NỀN KINH TẾ THỰC
Nhìn lại vài năm trở lại đây, blockchain, tài sản số, tiền ổn định giá (stablecoin) hay các mô hình số hóa tài sản đã chuyển từ những chủ đề thử nghiệm sang một phần ngày càng rõ nét trong các thảo luận về tương lai của hệ thống tài chính. Khi công nghệ chính thức bước vào hoạt động tài chính thực, vấn đề then chốt là liệu các tổ chức tài chính, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể cùng vận hành một hệ thống mới một cách an toàn, ổn định ở quy mô lớn hay không.
Phân tích về bước ngoặt này, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, giảng viên ngành Kinh tế số tại Đại học RMIT Việt Nam, nhận định rằng trong giai đoạn đầu, các cuộc thảo luận về blockchain và tài sản số thường chỉ tập trung vào tốc độ giao dịch, khả năng mở rộng hay ưu điểm kỹ thuật của từng nền tảng.
"Tuy nhiên, khi tài sản số liên quan trực tiếp đến bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, dòng tiền thực và các nghĩa vụ tài chính thực, những yêu cầu đối với hệ thống cũng trở nên phức tạp hơn nhiều," TS. Minh nhấn mạnh.
Cũng theo chuyên gia từ RMIT, một hạ tầng dù xử lý giao dịch siêu nhanh nhưng vẫn chưa thể xem là sẵn sàng nếu thiếu cơ chế lưu ký an toàn, xác minh danh tính, tuân thủ pháp luật, khả năng đối soát, bảo đảm quyền sở hữu, quản trị rủi ro và phương án xử lý sự cố. Đây chính là lý do khiến nhiều dự án dù thành công trong giai đoạn thử nghiệm nhỏ nhưng lại bế tắc khi đưa vào vận hành thực tế, nơi số lượng bên tham gia tăng lên, lợi ích cùng trách nhiệm pháp lý khác nhau và mức độ rủi ro cao hơn rất nhiều.
XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI VẬN HÀNH NHỊP NHÀNG
Để một công nghệ tài chính được áp dụng ở quy mô lớn, bài toán động lực và sự tương thích giữa các bên tham gia đóng vai trò quyết định. Một ngân hàng có thể phải đầu tư chi phí rất lớn cho hệ thống mới, nhưng lợi ích thu về lại nằm ở phía khách hàng hoặc doanh nghiệp công nghệ. Nếu không giải quyết thỏa đáng bài toán lợi ích, công nghệ dù tốt đến đâu cũng khó có thể bứt phá ra khỏi phạm vi hẹp.
TS. Nguyễn Nhật Minh cho rằng Việt Nam không nhất thiết phải bắt buộc mọi ngân hàng, nền tảng thanh toán hay hệ thống blockchain sử dụng chung một công nghệ. Điều quan trọng hơn là làm sao để các hệ thống khác nhau có thể “hiểu” và làm việc được với nhau thông qua những tiêu chuẩn chung về nhận diện tài sản, xác thực chủ thể, trao đổi dữ liệu và nguyên tắc pháp lý. Nếu không, nền kinh tế sẽ chỉ chuyển từ các “ốc đảo dữ liệu” truyền thống sang những “ốc đảo số” mới.
Bên cạnh đó, sự tương thích giữa quy tắc kỹ thuật và quy tắc pháp lý cũng ngày càng trở nên cấp thiết. Một giao dịch có thể đã hoàn tất về mặt kỹ thuật, nhưng tổ chức tài chính vẫn bắt buộc phải xác định giao dịch đó có được pháp luật công nhận hay không, quyền sở hữu thuộc về ai và cơ quan nào sẽ xử lý nếu phát sinh tranh chấp hay rủi ro thanh khoản.
TẠO LỢI THẾ RIÊNG TRONG CUỘC ĐUA KHU VỰC
Trong bức tranh tài chính số đầy năng động của châu Á, việc định vị chiến lược cho Việt Nam đang trở thành tâm điểm chú ý. Theo TS. Nguyễn Nhật Minh, Việt Nam không nhất thiết phải cố trở thành một bản sao của Singapore hay Hong Kong, những trung tâm đã có lợi thế vượt trội về tài chính quốc tế, thị trường vốn và mạng lưới định chế lâu đời.
Thay vào đó, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng biệt bằng cách trở thành nơi kiểm chứng khả năng ứng dụng của hạ tầng tài chính số trong nền kinh tế thực.
Thực tế cho thấy Việt Nam đang sở hữu hai đặc điểm chiến lược đáng chú ý: mức độ tham gia vào tài sản số của người dùng rất cao (nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu) và một nền kinh tế sản xuất, thương mại có độ mở lớn. Sự kết hợp này mang lại một lợi thế hiếm có: cộng đồng người dùng số năng động đi cùng nền kinh tế thực có quy mô sản xuất, xuất khẩu và chuỗi cung ứng lớn.
"Singapore và Hong Kong có thể tiếp tục đóng vai trò phát triển những cấu trúc tài chính tinh vi. Trong khi đó, Việt Nam có thể đóng vai trò chứng minh những cấu trúc đó tạo ra giá trị như thế nào khi đi vào một nền kinh tế mới nổi lớn, có mức độ số hóa cao và gắn sâu với thương mại quốc tế," TS. Minh chia sẻ.
Chuyên gia này khẳng định đây là sự khác biệt có ý nghĩa chiến lược. Trong kinh tế số, lợi thế không nhất thiết thuộc về quốc gia tạo ra mọi công nghệ nền tảng, mà còn đến từ nơi có khả năng biến công nghệ thành mô hình ứng dụng, quy trình kinh doanh và giải pháp có thể nhân rộng. Nếu nắm bắt tốt cơ hội này, Việt Nam sẽ chuyển mình từ vị thế người tiếp nhận công nghệ sang vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị: tạo ra các trường hợp ứng dụng, kiến thức triển khai và giải pháp có khả năng xuất khẩu ra toàn thị trường Đông Nam Á.
Theo TS. Minh, thay vì tự đặt câu hỏi liệu Việt Nam có thể trở thành một Singapore thứ hai hay không, góc nhìn thiết thực hơn là tìm kiếm những vấn đề kinh tế mà Việt Nam có đủ quy mô, nhu cầu và năng lực để giải quyết tốt hơn các thị trường khác.
"Vị trí đáng hướng tới của Việt Nam trong bản đồ tài chính số châu Á không chỉ là một thị trường đông người dùng. Việt Nam nên trở thành nơi biến hạ tầng tài chính số thành giá trị thực cho doanh nghiệp và nền kinh tế", TS. Minh nhấn mạnh. Nếu làm được điều đó, Việt Nam không chỉ tham gia vào tương lai tài chính của khu vực mà còn có thể góp phần định hình cách tương lai đó được triển khai.
