Việt Nam - Canada mở rộng dư địa hợp tác công nghiệp, hướng tới liên kết chuỗi giá trị
Trong bối cảnh Việt Nam và Canada đẩy mạnh đa dạng hóa thương mại, chuỗi cung ứng và hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược, hai nước còn nhiều dư địa mở rộng hợp tác công nghiệp, đầu tư, chuyển giao công nghệ và hình thành các chuỗi giá trị chung.
Nền tảng thương mại ngày càng được củng cố
Trong khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện được thiết lập từ năm 2017, hợp tác công nghiệp giữa Việt Nam và Canada được định hình và thúc đẩy thông qua các thiết chế nhiều tầng nấc, tiêu biểu là cơ chế Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế (JEC) được thành lập từ năm 2022 và Hiệp định CPTPP.
Bà Trần Thu Quỳnh, Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Canada cho biết, dù đã có nền tảng thể chế và định hướng hợp tác thuận lợi, hợp tác công nghiệp giữa hai nước vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Giao thương công nghiệp song phương chủ yếu tập trung vào thành phẩm tiêu dùng hoặc linh kiện điện tử gia công thông thường, trong khi các dự án FDI quy mô lớn của Canada vào lĩnh vực chế tạo công nghệ cao tại Việt Nam còn hạn chế.
Ở chiều ngược lại, sự hiện diện của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam tại Canada mới ở giai đoạn đầu. Hai bên cũng chưa hình thành được nhiều chuỗi liên kết sản xuất chặt chẽ để chia sẻ công nghệ, liên danh gia công sâu hoặc tận dụng đầy đủ quy tắc xuất xứ trong CPTPP.
Kỳ họp lần III Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam - Canada diễn ra ngày 5/6 tại Ottawa, Canada.
Tuy nhiên, thương mại song phương đang có những chuyển biến đáng chú ý. Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Canada, năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada đạt 13,8 tỷ USD, tăng 28,4%, đưa tổng kim ngạch thương mại hai chiều lên khoảng 14,75 tỷ USD. Trong khi đó, theo Hải quan Việt Nam, thương mại song phương đạt 8,6 tỷ USD, tăng 18,8%, với xuất khẩu lần đầu chạm ngưỡng 7,5 tỷ USD và nhập khẩu từ Canada vượt 1 tỷ USD. Đà tăng trưởng này tiếp tục được duy trì trong năm 2026, khi xuất khẩu 4 tháng đầu năm của Việt Nam sang Canada tăng 25%, cho thấy sức bật của quan hệ thương mại song phương bất chấp những biến động của kinh tế toàn cầu.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Canada sang Việt Nam năm 2025 tăng 24% và tăng 62% trong 4 tháng đầu năm 2026. Những con số này cho thấy tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế ngày càng rõ hơn.
Đáng chú ý, cơ cấu thương mại cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nguyên liệu, vật tư và hàng trung gian phục vụ sản xuất. Máy móc, thiết bị cơ khí và điện tử, điện máy chiếm khoảng 53% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Canada. Trong đó, máy móc, thiết bị cơ khí đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng 78,4%, còn điện tử, điện máy đạt gần 3,7 tỷ USD.
Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam cũng gia tăng mua từ Canada các mặt hàng phục vụ sản xuất như máy móc, sắt thép, phân bón, bột giấy và khoáng sản. Theo bà Trần Thu Quỳnh, xu hướng này cho thấy doanh nghiệp hai nước đang từng bước tham gia vào cùng một chu trình sản xuất, tạo nền tảng để chuyển từ quan hệ trao đổi thương mại sang bổ trợ kinh tế.
Mở rộng hợp tác từ luyện kim đến công nghệ cao
Theo Thương vụ Việt Nam tại Canada, Canada đang tái định hình chính sách công nghiệp đồng thời đẩy mạnh đa dạng hóa thương mại ra ngoài thị trường Hoa Kỳ. Những chuyển động này đang gặp gỡ rất thuận lợi với nhu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp và giá trị gia tăng của Việt Nam theo tinh thần các Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
Canada đang tích cực củng cố các ngành công nghiệp nền tảng và tái cơ cấu mạng lưới sản xuất, tìm kiếm sự liên kết sâu rộng hơn với các đối tác thương mại tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã vươn lên thành một trong những trung tâm sản xuất chế tạo, gia công cơ khí chính xác và lắp ráp vi điện tử năng động hàng đầu khu vực. Sự kết hợp này mở ra không gian rộng lớn để hai bên không chỉ mua bán, gia công cho nhau mà còn cùng đầu tư, phát triển sản phẩm và chuyển giao công nghệ, qua đó cùng nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Cơ sở chính của CanmetMATERIALS tại tại Hamilton, Ontario. Ảnh: CanmetMATERIALS
Một trong những thế mạnh công nghiệp nổi bật của Canada là ngành luyện kim. Canada sở hữu các tổ hợp luyện thép lớn tại Ontario với thế mạnh về thép tấm, thép hợp kim và thép chất lượng cao phục vụ công nghiệp ô tô, năng lượng và xây dựng, cùng hệ thống nghiên cứu vật liệu kim loại chuyên sâu như phòng thí nghiệm CanmetMATERIALS. Canada cũng đi đầu trong phát triển công nghệ luyện nhôm không phát thải khí nhà kính trực tiếp.
Đây là lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu hợp tác rất lớn. Hợp tác với Canada có thể mở ra hướng chuyển giao công nghệ luyện kim và luyện thép xanh, hợp tác nghiên cứu vật liệu kim loại tiên tiến và đào tạo đội ngũ kỹ sư luyện kim, qua đó giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ. Đồng thời, Canada có thể giúp Việt Nam tiếp cận nguồn vật tư nhằm đáp ứng các rào cản xanh của thị trường quốc tế.
Trong lĩnh vực cơ khí chính xác, Canada sở hữu hệ sinh thái công nghệ cao với các tiêu chuẩn an toàn và kiểm định đạt chuẩn quốc tế khắt khe trải rộng từ công nghiệp hàng không vũ trụ; công nghiệp ô tô với công nghệ tự động hóa dây chuyền lắp ráp; đến các giải pháp cảm biến, robot và cơ khí chính xác chuyên dụng. Đặc biệt, Canada là quốc gia sở hữu công nghệ lò phản ứng CANDU và là quốc gia G7 đầu tiên triển khai xây dựng lò phản ứng module nhỏ (SMR) nối lưới tại Darlington (Ontario). Đây là dư địa thuận lợi để các nhà sản xuất cơ khí trong nước nâng chuẩn kỹ thuật, tham gia vào các mạng lưới thầu phụ cung ứng linh kiện cấp hai, cấp ba cho các ngành công nghiệp hàng không, phương tiện giao thông và chuỗi cung ứng chế tạo thiết bị cho các dự án SMR quốc tế.
Đối với ngành hóa chất, hóa dầu và vật liệu pin, Canada nắm giữ nguồn nguyên liệu hydrocarbon dồi dào từ dầu cát và khí tự nhiên cùng trữ lượng khoáng sản thiết yếu phong phú. Năng lực này phù hợp với nhu cầu nguyên liệu đầu vào rất lớn của các ngành phân bón, hóa chất, nhựa kỹ thuật và sản xuất pin xe điện tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Canada là một trong những nhà cung cấp hàng đầu thế giới về kim loại phục vụ chuyển dịch năng lượng và uranium, Việt Nam lại sở hữu tiềm năng lớn về đất hiếm và vonfram. Sự kết hợp này mở ra tiềm năng hợp tác trong việc tiếp nhận công nghệ tinh luyện sâu, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật và cùng nghiên cứu phát triển các dòng vật liệu tiên tiến phục vụ các ngành công nghiệp tương lai. Việc kết hợp nguồn nguyên liệu ôn đới chất lượng cao của Canada như lúa mì, hạt cải dầu,... với nông sản nhiệt đới, thủy hải sản và nguồn sinh khối dồi dào của Việt Nam, cùng công nghệ bảo quản lạnh và chế biến sinh học tiên tiến, mở ra hướng phát triển các dòng thực phẩm giá trị gia tăng cao và các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Tận dụng CPTPP để hình thành chuỗi giá trị chung
Một trong những dư địa đáng chú ý trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Canada là tận dụng tốt hơn các ưu đãi của CPTPP để hình thành chuỗi cung ứng giữa hai nước. Theo Thương vụ Việt Nam tại Canada, tỷ lệ hàng hóa thực sự khai báo hưởng ưu đãi CPTPP trong năm 2025 mới đạt 18,4%, tương đương 49,8% nếu loại trừ các dòng thuế vốn đã bằng 0%. Phần lợi thế thuế quan chưa được tận dụng được Thương vụ ước tính có giá trị khoảng 237-580 triệu USD mỗi năm.
Cơ chế cộng gộp xuất xứ của CPTPP cho phép nguyên liệu, linh kiện có xuất xứ Canada được tính vào hàm lượng nội khối, giúp sản phẩm hoàn thiện tại Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Canada, Nhật Bản, Vương quốc Anh,...
Mặt khác, đầu vào phát thải thấp giúp sản phẩm Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn carbon và ESG ngày càng khắt khe tại EU và các thị trường ngoài khối. Đây chính là cầu nối quan trọng giúp doanh nghiệp hai nước mở rộng không gian tăng trưởng, khẳng định thương hiệu và vươn sâu vào các thị trường lớn.
Bên cạnh thương mại, đầu tư công nghiệp cũng còn dư địa lớn. Canada hiện là nhà đầu tư lớn thứ 14 tại Việt Nam với hơn 4,9 tỷ USD, song phần lớn vốn tập trung vào bất động sản, trong khi tỷ trọng đầu tư vào chế biến, chế tạo còn thấp. Bà Trần Thu Quỳnh cho rằng nâng cao hiệu quả tận dụng CPTPP, thúc đẩy đầu tư công nghiệp và mở rộng thương mại dịch vụ cần trở thành những trọng tâm hợp tác trong giai đoạn tới
Để mở rộng liên kết, Thương vụ Việt Nam tại Canada đề xuất hình thành cơ chế trao đổi chuyên trách về liên kết công nghiệp và chuỗi cung ứng trong khuôn khổ JEC; triển khai chương trình kết nối nhà cung ứng Việt Nam với các tập đoàn Canada trong lĩnh vực hàng không, ô tô, thiết bị năng lượng và SMR.
Hai bên cũng có thể tăng cường hợp tác về tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp, nâng cao năng lực chứng nhận cho doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực hàng không, thiết bị điện, linh kiện máy móc và chứng nhận dấu chân carbon của vật liệu.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hướng hợp tác có thể tập trung vào các dự án nghiên cứu và phát triển chung về tự động hóa sản xuất, vật liệu mới, hình thành liên danh sản xuất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trong lĩnh vực pin và vật liệu tiên tiến, hai nước có thể liên kết nguồn tiền chất pin của Canada với hoạt động sản xuất tại Việt Nam, đồng thời hợp tác về công nghệ chế biến sâu vật liệu.
Tại JEC 3, Cục Xúc tiến thương mại và Văn phòng Xúc tiến Xuất khẩu Canada (TFO) cũng đã ký văn kiện dự án “Hỗ trợ thương mại vì sự tăng trưởng kinh tế bền vững, bao trùm và thích ứng cao” (TRISEG) giai đoạn 2026-2030. Dự án hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu trong các ngành nông sản chủ lực.
Theo định hướng của Thương vụ Việt Nam tại Canada, hai nước còn có thể khuyến khích các tổ chức tài chính và tín dụng Canada tham gia các dự án khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam; đồng thời thúc đẩy hợp tác nghiên cứu về chế biến sâu khoáng sản thiết yếu và thiết kế vi mạch giữa các viện nghiên cứu, trường đại học.
Với nền tảng quan hệ Đối tác toàn diện, CPTPP và cơ chế JEC, dư địa hợp tác Việt Nam - Canada đang được mở rộng từ trao đổi hàng hóa sang đầu tư, công nghệ và liên kết sản xuất. Việc khai thác tốt hơn các thế mạnh bổ trợ, đồng thời nâng cao mức độ tận dụng CPTPP, có thể tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

