Xuất khẩu cá ngừ tăng tốc nhưng vẫn đối mặt nhiều sức ép

11:55, 30/07/2026

Kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam bất ngờ tăng mạnh trong tháng 6, giúp mức giảm của nửa đầu năm 2026 thu hẹp đáng kể. Tuy nhiên, đằng sau tín hiệu tích cực này là hàng loạt thách thức khi thị trường Hoa Kỳ gia tăng rào cản thuế quan, EU siết kiểm soát nhập khẩu và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt...

Xuất khẩu cá ngừ mỗi năm đem về gần 1 tỷ USD. Ảnh: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam.

Xuất khẩu cá ngừ mỗi năm đem về gần 1 tỷ USD. Ảnh: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam.

Dẫn số liệu của Cục Hải quan, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết xuất khẩu cá ngừ trong tháng 6/2026 đạt gần 88 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu năm, sau giai đoạn xuất khẩu liên tục sụt giảm từ tháng 2 đến tháng 5.

Nhờ kết quả này, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 455 triệu USD, chỉ còn giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2025.

HOA KỲ VẪN LÀ THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT TIÊU THỤ CÁ NGỪ VIỆT NAM

Mặc dù đã có nhiều tín hiệu tích cực, song bức tranh xuất khẩu cá ngừ trong 6 tháng đầu năm 2026 vẫn có sự phân hóa rõ nét. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất với hơn 176 triệu USD, chiếm gần 39% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng vẫn giảm 2,3% so với cùng kỳ; EU đạt gần 88 triệu USD, giảm 18%. Ngược lại, nhiều thị trường đang trở thành động lực tăng trưởng mới cho xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam như Nga tăng 83%, Philippines tăng 31%, Ai Cập tăng 29%, Israel tăng 17%; khối CPTPP tăng 6% và khu vực Trung Đông tăng 12%.

Đánh giá về thị trường Hoa Kỳ, VASEP cho biết xuất khẩu cá ngừ sang thị trường này trong tháng 6/2026 đạt gần 35,9 triệu USD, tăng gần gấp đôi so với tháng 6/2025. Đây là sự đảo chiều đáng chú ý sau nhiều tháng liên tiếp suy giảm. Tuy nhiên, mức tăng này chủ yếu xuất phát từ việc các nhà nhập khẩu đẩy nhanh tiến độ giao hàng nhằm tránh nguy cơ phát sinh chi phí từ chính sách thuế mới, thay vì phản ánh sự phục hồi bền vững của nhu cầu thị trường.

Trước đó, trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá ngừ sang Hoa Kỳ chỉ đạt khoảng 140 triệu USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mức giảm diễn ra liên tục qua từng tháng, cho thấy các nhà nhập khẩu vẫn duy trì tâm lý thận trọng trước những biến động của thị trường.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, tổng nhập khẩu cá ngừ của nước này trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 627 triệu USD, giảm khoảng 10% về giá trị và 11% về lượng so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, mức giảm của Việt Nam còn sâu hơn mặt bằng chung, phản ánh áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.

THUẾ MỚI TẠI HOA KỲ TẠO THÊM ÁP LỰC CHO DOANH NGHIỆP

Theo VASEP, một thách thức lớn hơn xuất hiện từ ngày 24/7/2026 khi cá ngừ Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có khả năng phải chịu thêm mức thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301, ngoài thuế MFN (thuế tối huệ quốc) và các nghĩa vụ hiện hành. Qua rà soát ban đầu, các sản phẩm cá ngừ xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chưa nằm trong danh mục được miễn trừ.

Mặc dù theo quy định pháp lý, bên nhập khẩu tại Hoa Kỳ là đối tượng trực tiếp nộp thuế, nhưng trên thực tế phần chi phí phát sinh thường được chuyển ngược trở lại cho doanh nghiệp xuất khẩu thông qua yêu cầu giảm giá bán, chia sẻ chi phí thuế, thay đổi quy cách sản phẩm hoặc cắt giảm khối lượng đơn hàng.

Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất chịu mức thuế bổ sung này. Thái Lan và Trung Quốc cũng thuộc nhóm áp dụng mức thuế 12,5%, do đó tương quan cạnh tranh giữa các nguồn cung này chưa thay đổi đáng kể nếu chỉ xét riêng yếu tố thuế Mục 301. Tuy nhiên, chi phí tăng lên sẽ tiếp tục tạo sức ép lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

Bên cạnh thị trường Hoa Kỳ, xuất khẩu cá ngừ sang EU cũng đang gặp nhiều khó khăn khi hệ thống kiểm soát nhập khẩu mới được áp dụng khiến hoạt động thông quan trở nên chặt chẽ hơn.

Trong khi đó, Indonesia được đánh giá sẽ có thêm lợi thế thương mại tại thị trường châu Âu, tạo áp lực cạnh tranh lớn hơn đối với cá ngừ Việt Nam trong thời gian tới.

Cá ngừ nhiều năm liền là nhóm hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ ba của ngành thủy sản Việt Nam, chỉ đứng sau tôm và cá tra. Trong giai đoạn 2019-2023, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ tăng từ 719 triệu USD lên 845 triệu USD, tương đương tăng 17%, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 3% mỗi năm. Năm 2024, xuất khẩu cá ngừ đạt 989 triệu USD, tăng 17% so với năm 2023. Sang năm 2025, kim ngạch giảm còn 924 triệu USD, thấp hơn 7% so với năm trước.

Riêng tại thị trường Hoa Kỳ, năm 2025 xuất khẩu đạt khoảng 331 triệu USD, chiếm gần 36% tổng kim ngạch, nhưng giảm gần 15% so với năm 2024. Trong cơ cấu sản phẩm, cá ngừ đóng hộp giữ mức ổn định, trong khi nhóm thịt và loin cá ngừ đông lạnh (HS0304) giảm mạnh. Trái ngược với Hoa Kỳ, xuất khẩu sang EU trong năm 2025 đạt gần 207 triệu USD, tăng 5% so với năm 2024.

Hiện nay, các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 100 thị trường trên thế giới. Bốn thị trường tiêu thụ lớn nhất gồm Hoa Kỳ, EU, Trung Đông và các nước CPTPP, chiếm từ 82-86% tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ.

Các loài cá ngừ xuất khẩu chủ yếu gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ vằn. Theo VASEP, nguồn lợi cá ngừ của Việt Nam tập trung chủ yếu tại vùng biển miền Trung và khu vực trung tâm Biển Đông, với trữ lượng ước trên 600 nghìn tấn. Trong đó, cá ngừ vằn chiếm hơn một nửa tổng nguồn lợi cá nổi. Sản lượng khai thác cá ngừ hằng năm đạt trên 200 nghìn tấn. Riêng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có trữ lượng bình quân trên 45 nghìn tấn, sản lượng khai thác từ 17.000-21.000 tấn mỗi năm và tập trung vào mùa vụ từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Cá ngừ vằn được khai thác quanh năm.

Những năm gần đây, Việt Nam cũng tích cực áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về khai thác thủy sản bền vững, bao gồm các quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) của EU cùng các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế khác, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.