Chính phủ số: Sự chuyển dịch và bài toán thực thi
Trọng tâm của chính phủ số không chỉ hướng tới việc số hóa thủ tục hay cải tiến dịch vụ công, mà chạm tới tầng sâu của cấu trúc quản trị: dữ liệu được xác lập như một loại hạ tầng chiến lược của quản trị quốc gia.
Nghị quyết 57-NQ/TW (22/12/2024) của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện hệ thống dữ liệu quốc gia, coi dữ liệu như hạ tầng cốt lõi của quản trị hiện đại. Mục tiêu năm 2026 hướng đến hoàn thành 100% cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia và chuyên ngành, đặc biệt là các dữ liệu liên quan đến thủ tục hành chính (TTHC).

Chính phủ số trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mô hình tăng trưởng
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt và lợi thế quốc gia ngày càng được đo bằng năng lực dữ liệu, đổi mới sáng tạo và tổ chức thực thi, Chính phủ số được xác định là trụ cột trung tâm của chiến lược phát triển. Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, cho thấy quyết tâm chính trị ở mức cao nhất trong việc coi KHCN, ĐMST và CĐS là đột phá chiến lược của kỷ nguyên mới.
Trên tinh thần đó, Quốc hội và Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương bằng hành động và thể chế. Hàng chục dự luật, nghị định, thông tư liên quan đến KHCN, ĐMST và CĐS được ban hành trong năm 2025, tạo nền tảng pháp lý cho quá trình triển khai trên thực tế.
Đồng thời, bộ máy hành chính đang được tái cấu trúc theo mô hình quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực, nơi dữ liệu trở thành hạ tầng điều hành cốt lõi thay cho phương thức quản lý phân mảnh, giấy tờ.
Trong bức tranh chung ấy, dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) trở thành biểu hiện cụ thể và dễ nhận diện nhất của Chính phủ số. Việc triển khai Đề án 06, vận hành CSDL dân cư với hơn 104 triệu thông tin đã xác thực và tích hợp hàng chục tiện ích trên nền tảng VNeID đã tạo tiền đề cho mô hình dịch vụ công (DVC) không phụ thuộc địa giới hành chính.
Ở đó, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp (DN) dần trở thành thước đo thực chất của hiệu quả quản trị.

Thực thi Chính phủ số: Thước đo năng lực địa phương
Trọng tâm của chính phủ số không chỉ hướng tới việc số hóa thủ tục hay cải tiến DVC, mà chạm tới tầng sâu của cấu trúc quản trị: dữ liệu được xác lập như một loại hạ tầng chiến lược của quản trị quốc gia.
Chính vì vậy, những chuyển động về thứ hạng trong 5 năm qua cần được nhìn nhận như thước đo của năng lực nền tảng.
Hạ tầng số quốc gia đang từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế: hạ tầng viễn thông tăng 41 bậc, xếp hạng 67; tốc độ Internet tăng 42 bậc, xếp hạng hạng 18. Xếp hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam theo Liên Hợp Quốc tăng 15 bậc, đứng thứ 71/193 quốc gia. An toàn thông tin đứng hạng 17.
Đề án 06 được xem là bước ngoặt khi dữ liệu dân cư trở thành “mạch sống số” liên thông các hệ thống quản trị. Hơn 104 triệu thông tin dân cư đã được xác thực; nền tảng VNeID tích hợp trên 50 tiện ích, ghi nhận trung bình hơn 3 triệu lượt truy cập mỗi ngày, trong khi các ứng dụng Công dân số và Cổng Pháp luật Quốc gia mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và thông tin theo hướng minh bạch, tương tác và phi địa giới hành chính.
Tuy nhiên, việc triển khai Chính phủ số trên thực tế đang phản ánh một bức tranh đa tầng, khi mỗi địa phương bước vào CĐS với điều kiện, áp lực và tốc độ khác nhau.
Là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, TP. Hồ Chí Minh xác định cải cách hành chính và CĐS là động lực trọng tâm để duy trì tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh kinh tế số đóng góp khoảng 20% GDP với hơn 45.000 DN công nghệ hoạt động trên toàn quốc, thành phố giữ vai trò thử nghiệm và dẫn dắt các mô hình quản trị hiện đại.
Thành phố rà soát toàn bộ văn bản hướng dẫn để kịp thời điều chỉnh phù hợp thực tiễn, đẩy mạnh cải cách TTHC theo hướng giảm tối thiểu 50% thời gian và chi phí tuân thủ. 100% thủ tục đủ điều kiện sẽ được thực hiện trực tuyến toàn trình; tối thiểu 80% hồ sơ được xử lý hoàn toàn trên môi trường số, không phụ thuộc địa giới hành chính; tỷ lệ giải quyết đúng hạn phấn đấu đạt trên 98%.
UBND TP.HCM đã ban hành kế hoạch cải cách hành chính với 92 nhiệm vụ trên 6 lĩnh vực gồm cải cách thể chế, TTHC, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công và xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số. Các nhiệm vụ được phân công rõ người, rõ việc, rõ thời gian và trách nhiệm thực thi.
Hướng đến năm 2030, TP.HCM đặt mục tiêu chỉ số CĐS đạt từ 0,75 trở lên, nằm trong nhóm ba địa phương dẫn đầu cả nước. Hạ tầng số sẽ được phát triển đồng bộ với độ phủ 5G đạt 100% dân số, hoàn thiện Trung tâm dữ liệu (TTDL) Thành phố và kết nối với TTDL quốc gia.
Toàn bộ TTHC sẽ được tiếp nhận, giải quyết phi địa giới; 100% hồ sơ và kết quả được số hóa; tối thiểu 85% hồ sơ xử lý trực tuyến, 70% hệ thống thông tin vận hành trên nền tảng điện toán đám mây và 80% CSDL được số hóa, liên thông.
Nếu TP.HCM đại diện cho bài toán quản trị đô thị quy mô lớn, thì Hà Tĩnh nổi lên như một điểm sáng về hiệu quả thực thi DVCTT. Theo thống kê từ Cổng Dịch vụ công Quốc gia, năm 2025, Hà Tĩnh đã tạo dấu ấn rõ nét trên bản đồ cải cách hành chính khi đạt 21,5/22 điểm về số hóa hồ sơ, đứng đầu trong 34 tỉnh, thành phố được xếp hạng.
Thống kê dữ liệu về mức độ số hóa hồ sơ của UBND tỉnh Hà Tĩnh năm 2025 (Nguồn: Cổng Dịch vụ công Quốc gia)
Đà chuyển động đó tiếp tục được duy trì trong tháng 2/2026 với tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 99,71%, hồ sơ toàn trình 99,74% và giải quyết đúng hạn 95,37% - thuộc nhóm cao nhất cả nước. Kết quả này cho thấy việc khai thác dữ liệu DN, đất đai và số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục đã đi vào thực chất.
Bước sang năm 2026, Hà Tĩnh đặt mục tiêu nâng chuẩn cải cách với 7 lĩnh vực trọng tâm, từ thể chế, tổ chức bộ máy đến xây dựng chính quyền số gắn với ISO 9001:2015. Tỉnh yêu cầu 100% cơ quan ban hành và triển khai kế hoạch cải cách; tối thiểu 35% đơn vị được kiểm tra định kỳ; phấn đấu có ít nhất 3 sáng kiến áp dụng hiệu quả.
Các chỉ tiêu được nâng cao rõ rệt: giải quyết hồ sơ đúng và trước hạn trên 99%, mức hài lòng đạt từ 95% trở lên; hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 70%, thanh toán trực tuyến tối thiểu 75%. Đồng thời, toàn bộ thủ tục phải được cập nhật trên CSDL quốc gia, 100% hồ sơ và kết quả được cấp điện tử, tiến tới hoàn tất thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính trong năm 2026.
Khác với hai địa phương đã bước vào giai đoạn tăng tốc, tỉnh Điện Biên đang chủ động lựa chọn cách đi thận trọng nhưng có tính toán cho chu kỳ 2026-2030: xây nền tảng thể chế và quản trị song hành với CĐS.
Trên nền hạ tầng số quốc gia ngày càng hoàn thiện - băng thông di động đã phủ 99,44% thôn, bản; 5G tiếp cận hơn 91% dân số; hơn 50 tiện ích tích hợp trên VNeID với trung bình 3 triệu lượt truy cập mỗi ngày toàn quốc - điều kiện tiếp cận dịch vụ công của người dân miền núi được mở rộng đáng kể.
Hạ tầng số ở đây không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách địa lý, mà còn tạo nền tảng để tái cấu trúc quy trình, chuyển từ xử lý hồ sơ thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu, giảm phụ thuộc vào không gian hành chính truyền thống.
UBND tỉnh Điện Biên xác định hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật theo phân cấp và nâng cao chất lượng thực thi là trục then chốt, đồng thời chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.
Cam kết cắt giảm tối thiểu 50% thời gian giải quyết và 50% chi phí tuân thủ TTHC so với năm 2024 được đặt trong logic cải cách dựa trên dữ liệu số: không yêu cầu cung cấp lại giấy tờ đã số hóa, không phát sinh thủ tục, quy định kinh doanh thiếu khả thi. Song song là tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với siết kỷ luật hành chính và trách nhiệm người đứng đầu, lấy kết quả thực chất làm thước đo.
Ba địa phương đại diện cho ba trạng thái khác nhau của tiến trình Chính phủ số: đô thị siêu lớn với áp lực vận hành cao; tỉnh trung bình bứt phá về tỷ lệ thực hiện; và địa phương miền núi đang đặt nền móng cho giai đoạn tăng tốc.
Hiệu quả thực thi Chính phủ số không chỉ được nhìn qua từng câu chuyện địa phương, mà còn thể hiện qua các chỉ số quốc gia về cung cấp DVCTT. Tính đến ngày 21/01/2026, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ giải quyết TTHC trong tháng đạt 51,09%. Trong đó, khối bộ đạt 66,87%, trong khi khối tỉnh đạt 22,87%. So với cùng kỳ tháng 1/2025, tỷ lệ này trên phạm vi cả nước đã tăng 16,79%.

Năm năm chuyển dịch: Tái cấu trúc quản trị trên nền tảng dữ liệu
Chuyển đổi số tại Việt Nam không diễn ra theo những bước đi rời rạc, mà được thiết kế theo một lộ trình có tính kế thừa và tăng tốc qua từng giai đoạn. Từ mốc chính thức xác lập Chương trình CĐS quốc gia năm 2020 đến việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp vào năm 2025, mỗi bước đi đều gắn với một sự chuyển dịch quan trọng: từ điện tử hóa thủ tục sang xây dựng hạ tầng dữ liệu lõi; từ cung cấp DVCTT sang tái cấu trúc phương thức vận hành bộ máy.
Các dấu mốc trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia
Năm năm chuyển dịch vừa qua thực chất mới chỉ là phần nổi của một quá trình tái cấu trúc sâu rộng hơn, nơi Nhà nước đang dịch chuyển từ mô hình quản lý dựa trên thủ tục sang mô hình điều hành dựa trên dữ liệu.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt và lợi thế quốc gia được đo bằng năng lực công nghệ lẫn khả năng tổ chức thực thi, Chính phủ số không thể dừng ở cải cách hành chính hay số hóa quy trình. Đây không chỉ là mục tiêu cải cách, mà là điều kiện để Việt Nam định vị mình trong trật tự phát triển mới của thế giới.
