Đánh thức “mỏ vàng” văn hóa bằng sở hữu trí tuệ
Từ những giá trị văn hóa truyền thống đến các sản phẩm sáng tạo trong môi trường số, Việt Nam đang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào nhưng chưa khai thác tương xứng. Theo các chuyên gia, kết hợp sở hữu trí tuệ với công nghệ số, thương mại và đổi mới sáng tạo sẽ mở ra cơ hội biến những giá trị vô hình thành tài sản có khả năng tạo doanh thu.
Trong khuôn khổ chương trình ra mắt Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Văn hóa – Thương mại Quốc tế, Tọa đàm “Sở hữu trí tuệ với ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo trong kỷ nguyên số” diễn ra với sự tham gia của các chuyên gia, nhà quản lý,… cùng trao đổi về vai trò của sở hữu trí tuệ trong bảo vệ, khai thác và thương mại hóa các giá trị văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số.
Từ bảo tồn văn hóa đến tạo ra giá trị kinh tế
Chia sẻ tại tọa đàm, bà Hồ Thị Quyên – Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư TP.HCM – cho biết các sản phẩm văn hóa Việt Nam, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ, nhận được sự quan tâm từ thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để bước vào những thị trường khó tính, sản phẩm không thể chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Người tiêu dùng quốc tế ngày càng quan tâm đến môi trường, trách nhiệm xã hội, điều kiện lao động, nguồn gốc và thậm chí cả yếu tố đạo đức trong quá trình sản xuất.
“Chúng ta thường quan tâm đến sản phẩm cuối cùng nhưng chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến hành trình tạo ra sản phẩm đó”, bà Hồ Thị Quyên nhận định.

Các diễn giả chia sẻ tại Tọa đàm “Sở hữu trí tuệ với ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo trong kỷ nguyên số”. Ảnh: Nhật Linh
Theo bà, nhiều sản phẩm làng nghề Việt Nam vẫn được sản xuất theo phương thức truyền thống, thiếu truy xuất nguồn gốc và chưa hình thành quy trình quản trị đồng bộ.
Một điểm yếu khác là khả năng nhận diện và định vị thương hiệu. Việt Nam có nhiều sản phẩm đặc sắc nhưng chưa trả lời được câu hỏi: Khi nhắc đến một sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế, người tiêu dùng sẽ nhớ đến điều gì?
“Chúng ta không thể chỉ bán những sản phẩm mình có, mà cần hướng tới việc bán những sản phẩm thị trường cần. Sản phẩm phải gắn với câu chuyện thương hiệu và những nét đặc trưng văn hóa”, bà Quyên nói.
Từ góc độ giao thoa giữa văn hóa và thương mại, bà cho rằng phát triển công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với việc thương mại hóa bằng mọi giá. Trước khi khai thác giá trị kinh tế, cần kế thừa và bảo tồn bản sắc văn hóa. Theo đó, di sản có thể trở thành nguồn lực để tạo ra lợi nhuận mềm, sau đó nguồn lực kinh tế được tái đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa. Đây chính là mối quan hệ hai chiều.
Trong khi đó, theo bà Lê Thị Thùy Anh (Amy Lê Anh), Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Văn hóa – Thương mại Quốc tế, câu chuyện công nghiệp văn hóa trước hết phải bắt đầu từ việc đưa văn hóa vào đời sống. Bà đặt vấn đề: Nghệ sĩ đi hát chỉ để kiếm tiền hay vì đam mê? Làm thế nào để nghệ sĩ vừa có thể theo đuổi đam mê vừa tạo ra thu nhập bền vững từ chính tài sản trí tuệ của mình?

Quảng cảnh buổi ra mắt Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Văn hóa – Thương mại Quốc tế. Ảnh: Nhật Linh
Từ những trăn trở đó, bà cho rằng công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận theo hướng cởi mở hơn. “Công nghiệp văn hóa, theo tôi, đơn giản là chúng ta phải làm nhiều lên. Hãy làm bất cứ điều gì và đưa văn hóa của chúng ta vào đó, từ trang phục, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử đến văn hóa doanh nghiệp, văn hóa cộng đồng hay các sản phẩm nghệ thuật, đều có thể trở thành những yếu tố góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”, bà chia sẻ.
Làm sao để đánh thức “mỏ vàng” văn hóa?
Ông Danny Võ Thành Đăng (Danny Võ), Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM, cho rằng trước khi khái niệm “công nghiệp văn hóa” được sử dụng rộng rãi, Việt Nam từng tiếp cận với khái niệm “công nghiệp sáng tạo”, bao gồm 13 ngành đặc thù. Sau khoảng 20 năm hình thành và phát triển, văn hóa ngày nay không chỉ nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn hay lan tỏa các giá trị tinh thần, mà còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo doanh thu, đóng góp vào GDP.
Theo ông Danny Võ, khi sản phẩm văn hóa được tổ chức, đầu tư, thương mại hóa bài bản, chúng hoàn toàn có thể trở thành “đại sứ thương hiệu” cho doanh nghiệp và quốc gia. Đây cũng là cách nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp,… đã tận dụng thành công để đưa các sản phẩm văn hóa vươn ra thị trường quốc tế.
Trong hành trình đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò là cầu nối quan trọng, giúp sản phẩm văn hóa Việt Nam tiếp cận thị trường sở tại, mở rộng nhận diện thương hiệu, kết nối giao thương và tạo thêm cơ hội hợp tác cho doanh nghiệp trong nước.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Đình Thắng – Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, Chủ tịch Liên minh Tài sản số Việt Nam – nhận định văn hóa là một “mỏ vàng” nếu được số hóa và khai thác đúng cách.

Những chia sẻ từ các chuyên gia tại Tọa đàm cho thấy công nghiệp văn hóa Việt Nam đang đứng trước dư địa phát triển lớn, đặc biệt khi công nghệ số mở ra những phương thức mới để bảo vệ, quảng bá và thương mại hóa các giá trị văn hóa. Ảnh: Nhật Linh
Theo ông, công nghệ đang mở ra khả năng chuyển hóa những giá trị trí tuệ, sáng tạo và tài sản vô hình thành các sản phẩm có khả năng tạo doanh thu. Khi đó, nghệ sĩ và chủ thể sáng tạo không chỉ làm nghề vì đam mê mà còn có thể xây dựng được mô hình kinh doanh, tạo nguồn thu, thu hút đầu tư cho các sản phẩm văn hóa.
Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế, các tài sản văn hóa cần được quản trị minh bạch. Nhà đầu tư sẽ quan tâm đến khả năng sinh lời, chuyển nhượng, mức độ minh bạch cũng như những rủi ro pháp lý liên quan đến tài sản. Các công nghệ như blockchain, NFT,… có thể mở ra những phương thức mới trong việc xác lập, quản lý.
Dù vậy, ông Nguyễn Đình Thắng lưu ý số hóa văn hóa phải đi cùng hành lang pháp lý, nền tảng minh bạch và nguyên tắc tôn trọng di sản, bản sắc. “Không phải cái gì cũng số hóa. Có những giá trị cần được bảo tồn nguyên trạng”, ông nói, đồng thời nhấn mạnh sáng tạo phải dựa trên sự kế thừa, có đường đi riêng và tăng cường kết nối, chia sẻ.
“Chìa khóa” bảo vệ tài sản sáng tạo
Từ góc độ sở hữu trí tuệ, ông Trần Giang Khuê – Trưởng Văn phòng Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM – cho rằng Việt Nam hiện đã có hệ thống cơ chế, chính sách và quy định pháp luật tương đối đầy đủ để bảo vệ tài sản trí tuệ.
Vấn đề hiện nay là làm thế nào để cụ thể hóa việc phát triển văn hóa thành các giá trị kinh tế, đồng thời nâng cao nhận thức của cá nhân, doanh nghiệp và nghệ sĩ về quyền sở hữu trí tuệ.
Theo thống kê, tính đến tháng 12/2025, cơ quan chức năng đã cấp 86.687 Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Song song đó, quá trình số hóa đã hoàn thành hơn 108.000 hồ sơ đăng ký từ giai đoạn 1986-2022, góp phần hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ quản lý và tra cứu trên không gian mạng.
Ở lĩnh vực sở hữu công nghiệp, năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận khoảng 152.000 đơn. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, số đơn tiếp nhận đạt khoảng 83.000, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Những con số này cho thấy nhận thức về sở hữu trí tuệ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, ông Khuê cho rằng trong thực tế vẫn còn nhiều khoảng trống, nhất là việc xác lập và chứng minh quyền.

Ông Trần Giang Khuê - Trưởng Văn phòng Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM trong một buổi tập huấn về sở hữu trí tuệ.
“Khó khăn lớn là chứng minh quyền thuộc về ai. Đăng ký hay không đăng ký, đăng ký trong nước hay ngoài nước… Nhiều trường hợp còn tâm lý chủ quan, quên mất nền tảng bền vững nhất vẫn là phải đăng ký xác lập quyền”, ông Trần Giang Khuê nhấn mạnh.
Bên cạnh đó là rủi ro trong cấp phép và khai thác quyền. Các hợp đồng giữa người sáng tạo với nhau hoặc giữa người sáng tạo và đơn vị khai thác cần được xây dựng rõ ràng, đầy đủ. Trong môi trường số, nguy cơ xâm phạm quyền rất lớn nếu chủ sở hữu không chủ động quản trị tài sản trí tuệ.
Từ đó, ông Trần Giang Khuê cho rằng sự tham gia của các tổ chức trung gian là cần thiết, bởi nghệ sĩ và chủ thể sáng tạo cần những địa chỉ đáng tin cậy để gửi gắm, quản lý cũng như khai thác tài sản trí tuệ của mình.
