Hợp tác y tế Việt – Nhật: Hơn nửa thế kỷ đồng hành vì sức khỏe nhân dân

12:24, 08/11/2026

Từ xây dựng những bệnh viện đầu ngành, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực đến hỗ trợ sản xuất vaccine và ứng phó với các đại dịch, Nhật Bản đã có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ngành Y tế Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ hợp tác không chỉ nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân mà còn góp phần vun đắp quan hệ hữu nghị, đối tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia.

Hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản: Hơn nửa thế kỷ đồng hành vì sức khỏe nhân dân - Ảnh 1.

Ngài Yamada Takio, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam dự Họi nghị chào mừng 50 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Nhật Bản năm 2023 - Ảnh: BVBM

Những công trình y tế mang dấu ấn hợp tác Việt – Nhật

Trong hơn 50 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản đã không ngừng mở rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó y tế là một trong những trụ cột hợp tác có nhiều dấu ấn thiết thực. Thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Chính phủ Nhật Bản đã dành cho ngành Y tế Việt Nam nguồn hỗ trợ đáng kể dưới nhiều hình thức, từ viện trợ không hoàn lại, vốn vay ưu đãi đến các chương trình hợp tác kỹ thuật và đào tạo nhân lực.

Đáng chú ý là các chương trình hợp tác không chỉ tập trung vào đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị mà còn hướng tới nâng cao năng lực chuyên môn, quản trị bệnh viện và phát triển hệ thống y tế theo hướng bền vững. Nhiều bệnh viện, cơ sở nghiên cứu và đơn vị y tế của Việt Nam đã được thụ hưởng những chương trình hỗ trợ có ý nghĩa lâu dài.

Một trong những dấu ấn nổi bật là dự án hợp tác với Bệnh viện Bạch Mai. Với nguồn viện trợ trị giá khoảng 6,3 tỷ yên Nhật, tương đương 50 triệu USD, Nhật Bản đã hỗ trợ xây dựng tòa nhà điều trị mới, góp phần nâng cao năng lực khám, chữa bệnh của một trong những bệnh viện tuyến cuối lớn nhất miền Bắc.

Không chỉ đầu tư cơ sở vật chất, hai bên tiếp tục triển khai dự án tăng cường năng lực Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2000-2005, thông qua đào tạo cán bộ tại Nhật Bản và Việt Nam, cử chuyên gia Nhật Bản sang hỗ trợ chuyên môn. JICA còn viện trợ bổ sung khoảng 573.000 USD để xây dựng trung tâm đào tạo tại bệnh viện.

Đặc biệt, chương trình hợp tác tiếp nối đã hướng tới tăng cường năng lực đào tạo, chuyển giao kiến thức và hỗ trợ chuyên môn cho các bệnh viện tuyến tỉnh. Qua đó, Bệnh viện Bạch Mai không chỉ được nâng cao năng lực điều trị mà còn phát huy vai trò bệnh viện hạt nhân, hỗ trợ chuyên môn cho mạng lưới y tế tuyến dưới.

Hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản: Hơn nửa thế kỷ đồng hành vì sức khỏe nhân dân - Ảnh 2.

Lễ khai giảng lớp Đào tạo giảng viên do JICA tài trợ - Ảnh: BVBM

Tại miền Trung, Bệnh viện Trung ương Huế cũng là một công trình tiêu biểu ghi dấu sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản. Dự án nâng cấp bệnh viện được triển khai với khoản viện trợ không hoàn lại khoảng 2,825 tỷ yên, tương đương 28 triệu USD, cùng nguồn hỗ trợ cho giai đoạn thiết kế. Công trình được khánh thành năm 2007, tạo điều kiện cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực chuyên môn của bệnh viện.

Song song với đầu tư tại bệnh viện, dự án Tăng cường hệ thống y tế miền Trung được triển khai trong giai đoạn 2005-2009, lấy Bệnh viện Trung ương Huế làm hạt nhân, hướng tới nâng cao năng lực cán bộ y tế tại 16 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Cách tiếp cận này cho thấy mục tiêu của hợp tác không chỉ là nâng cấp một cơ sở y tế mà còn tạo sức lan tỏa cho toàn khu vực.

Ở phía Nam, Bệnh viện Chợ Rẫy là một trong những đối tác hợp tác lâu năm với Nhật Bản. Chương trình hợp tác trị giá khoảng 24 triệu USD, triển khai từ năm 1992 đến 2008, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo trong nước. Các chương trình hợp tác tiếp tục được mở rộng sang lĩnh vực phục hồi chức năng, nâng cao năng lực chuyên môn và cải thiện chất lượng điều trị.

Đáng chú ý, dự án xây dựng Bệnh viện Hữu nghị Việt – Nhật Chợ Rẫy cơ sở 2 với nguồn vốn vay của Chính phủ Nhật Bản, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 247 triệu USD, là một trong những dự án hợp tác quy mô lớn được kỳ vọng tạo thêm năng lực khám, chữa bệnh cho khu vực phía Nam.

Những công trình trên cho thấy một hướng đi xuyên suốt trong hợp tác y tế Việt – Nhật: kết hợp đầu tư cơ sở vật chất với đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật và tăng cường năng lực cho hệ thống y tế. Đây cũng là ba bệnh viện đầu ngành đại diện cho ba miền, có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chuyên môn, đào tạo và chỉ đạo tuyến.

Hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản: Hơn nửa thế kỷ đồng hành vì sức khỏe nhân dân - Ảnh 3.

Lễ bàn giao TTBYT trị giá gần 11 tỷ đồng của JICA trao tặng Bệnh viện Bạch Mai năm 2022Ảnh: BVBM

 Từ phòng bệnh, sản xuất vaccine đến năng lực ứng phó dịch bệnh

Nếu đầu tư bệnh viện là dấu ấn dễ nhận thấy thì hợp tác y tế dự phòng, đặc biệt trong lĩnh vực tiêm chủng, sản xuất vaccine và phòng chống bệnh truyền nhiễm, lại là một đóng góp có ý nghĩa chiến lược của Nhật Bản đối với Việt Nam.

Trong nhiều năm, Chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ Việt Nam triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng, cung cấp vaccine sởi phục vụ chiến dịch tiêm nhắc lại mũi thứ hai cho trẻ em dưới 15 tuổi trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2001-2003. Các chương trình hỗ trợ vaccine, trang thiết bị và kỹ thuật đã góp phần củng cố năng lực phòng bệnh, hỗ trợ ngành Y tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa bằng vaccine.

Một dấu ấn đáng chú ý khác là dự án xây dựng cơ sở sản xuất vaccine sởi tại Việt Nam với nguồn viện trợ khoảng 2 tỷ yên Nhật, kết hợp chương trình hợp tác kỹ thuật về đào tạo và chuyển giao công nghệ cho cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất vaccine và sinh phẩm y tế (POLYVAC).

Đây không đơn thuần là hỗ trợ một dây chuyền sản xuất mà còn góp phần nâng cao năng lực tự chủ vaccine trong nước. Vaccine sởi là một trong những loại vaccine Việt Nam có khả năng sản xuất, qua đó từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và bảo đảm tính chủ động trong công tác tiêm chủng.

Hợp tác giữa hai nước tiếp tục được mở rộng sang lĩnh vực chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine phối hợp sởi – rubella, góp phần tăng cường năng lực sản xuất vaccine phục vụ các chương trình y tế cộng đồng.

Trong lĩnh vực phòng chống bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, Nhật Bản cũng có những hỗ trợ mang tính nền tảng. Tiêu biểu là dự án xây dựng phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3 (BSL-3) tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Đây là phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3 đầu tiên của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong nghiên cứu, phát hiện và xét nghiệm các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản: Hơn nửa thế kỷ đồng hành vì sức khỏe nhân dân - Ảnh 4.

Lễ ký kết dự án nâng cấp Bệnh viện Bạch Mai và bàn giao viện trợ vaccine sởi, phương tiện vận chuyển của Chính phủ Nhật Bản cho Bộ Y tế Việt Nam năm 1998 - Ảnh: BVBM

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, phía Nhật Bản triển khai các chương trình hợp tác kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cung cấp phòng xét nghiệm P3 di động, đào tạo nhân lực và hỗ trợ nghiên cứu khoa học. Sự phối hợp giữa Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương với Đại học Nagasaki và các cơ sở nghiên cứu của Nhật Bản cũng góp phần thúc đẩy nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái xuất hiện tại Việt Nam.

Những hỗ trợ này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm mới nổi, nguy cơ dịch bệnh xuyên biên giới và các tình huống y tế công cộng khẩn cấp ngày càng đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực giám sát, xét nghiệm và ứng phó của mỗi quốc gia.

Thực tế, trong các đợt dịch SARS, cúm gia cầm A/H5N1 và cúm A/H1N1, Nhật Bản cũng đã hỗ trợ Việt Nam trang thiết bị phòng hộ, thuốc Tamiflu và các nguồn lực phục vụ phòng chống dịch. Đây là những hỗ trợ kịp thời, góp phần tăng cường năng lực ứng phó của ngành Y tế trong những thời điểm khó khăn.

Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản tiếp tục được thể hiện rõ nét. Nhật Bản đã hỗ trợ Việt Nam hơn 4 triệu liều vaccine AstraZeneca, đồng thời thông qua UNICEF cung cấp 1.600 hòm lạnh kèm thiết bị theo dõi nhiệt độ, phục vụ bảo quản và vận chuyển vaccine.

Thông qua JICA, nhiều cơ sở y tế của Việt Nam được hỗ trợ sinh phẩm xét nghiệm, trang thiết bị bảo hộ cá nhân, mặt nạ N95 và máy xét nghiệm PCR. Bệnh viện Chợ Rẫy được cung cấp hai máy ECMO, ba máy thở cùng một số thiết bị phục vụ hồi sức, cấp cứu và kiểm soát nhiễm khuẩn. Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương được hỗ trợ hệ thống máy COBAS và tủ lạnh âm sâu. Trong khi đó, Bệnh viện Bạch Mai được hỗ trợ tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn, cải thiện hệ thống thông gió, lọc khí tại khoa hồi sức tích cực và một số thiết bị phục vụ điều trị.

Những hỗ trợ này không chỉ giúp các bệnh viện có thêm nguồn lực ứng phó với đại dịch mà còn góp phần củng cố năng lực xét nghiệm, hồi sức cấp cứu, kiểm soát nhiễm khuẩn và sẵn sàng trước các tình huống y tế khẩn cấp trong tương lai.

Mở rộng hợp tác Việt - Nhật trước những thách thức y tế mới

Bên cạnh các dự án đầu tư bệnh viện và y tế dự phòng, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực thiết yếu như sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, quản lý bệnh viện và bảo hiểm y tế.

Trong giai đoạn 2011-2014, Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ triển khai thí điểm Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại bốn tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa và An Giang. Mô hình giúp theo dõi liên tục tình trạng sức khỏe của phụ nữ mang thai, bà mẹ và trẻ em, đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe trong gia đình và cộng đồng.

Nhật Bản cũng hỗ trợ trang thiết bị cho Bệnh viện Phụ sản Trung ương với tổng giá trị khoảng 5,3 triệu USD, góp phần nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

Trong lĩnh vực phục hồi chức năng, dự án tăng cường dịch vụ phục hồi chức năng tại một số tỉnh phía Nam, với Bệnh viện Chợ Rẫy là đơn vị tham gia, được triển khai giai đoạn 2010-2013 với kinh phí khoảng 136 triệu yên. Các hoạt động hợp tác góp phần cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng, nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ y tế.

Một hướng hợp tác ngày càng có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số là đào tạo nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Dự án thí điểm giới thiệu, hỗ trợ đào tạo và thực hành điều dưỡng lão khoa giữa Trường Đại học Công nghệ Kanagawa (Nhật Bản) và Trường Đại học Y Dược Thái Bình, triển khai giai đoạn 2024-2026 với nguồn viện trợ không hoàn lại 10 triệu yên, là một ví dụ cụ thể.

Nhật Bản là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, phát triển dịch vụ điều dưỡng và phục hồi chức năng. Vì vậy, việc tiếp nhận kinh nghiệm, chương trình đào tạo và phương pháp thực hành từ Nhật Bản có thể giúp Việt Nam chuẩn bị tốt hơn về nhân lực trước những thay đổi nhanh chóng của cơ cấu dân số.

Hiện nay, hợp tác giữa hai nước tiếp tục được duy trì và phát triển thông qua nhiều dự án mới. Trong đó, dự án Tăng cường hệ thống phát triển năng lực cho nhân viên y tế thông qua khám, chữa bệnh từ xa do JICA hỗ trợ Cục Quản lý Khám, chữa bệnh triển khai giai đoạn 2023-2028, với tổng vốn ODA không hoàn lại 3 triệu USD, hướng tới nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ y tế thông qua ứng dụng công nghệ số.

Dự án Đẩy mạnh công tác phòng, chống bệnh viêm gan virus tại Việt Nam, triển khai giai đoạn 2023-2026 với nguồn ODA 3 triệu USD, tập trung hỗ trợ tăng cường năng lực phòng bệnh, phát hiện và kiểm soát viêm gan virus.

Đáng chú ý, dự án viện trợ trang thiết bị y tế cho Bệnh viện K cơ sở Quán Sứ, do JICA hỗ trợ trong giai đoạn 2024-2026 với tổng vốn ODA không hoàn lại khoảng 12,79 triệu USD, được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị ung thư và cải thiện chất lượng dịch vụ cho người bệnh.

Cùng với đó, chương trình cung cấp trang thiết bị cho bốn bệnh viện trung ương gồm Bệnh viện Phổi Trung ương, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện C Đà Nẵng tiếp tục bổ sung nguồn lực cho hệ thống y tế chuyên sâu, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng trước các tình huống dịch bệnh.

Một lĩnh vực hợp tác có tầm nhìn khu vực là thúc đẩy thành lập Trung tâm ASEAN đáp ứng các tình huống y tế công cộng khẩn cấp và bệnh truyền nhiễm mới nổi (ACPHEED). Sáng kiến này hướng tới tăng cường năng lực phối hợp, chia sẻ thông tin, giám sát và ứng phó với các nguy cơ y tế công cộng trong khu vực ASEAN, trong đó có sự hỗ trợ và đồng hành của Nhật Bản.

Bồi đắp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện bằng những giá trị thiết thực

Nhìn lại chặng đường hợp tác, có thể thấy sự hỗ trợ của Nhật Bản dành cho ngành Y tế Việt Nam không chỉ được đo bằng tổng giá trị viện trợ, số lượng trang thiết bị hay quy mô các công trình bệnh viện. Giá trị lớn hơn nằm ở năng lực chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ và nguồn nhân lực mà Việt Nam tiếp nhận, từng bước làm chủ và phát huy.

Từ những tòa nhà điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung ương Huế, các chương trình đào tạo tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3, các dự án sản xuất vaccine và hỗ trợ ứng phó COVID-19, hợp tác y tế Việt – Nhật đã tạo ra những kết quả cụ thể, gắn trực tiếp với quyền lợi và sức khỏe của người dân.

Đặc biệt, cách tiếp cận hợp tác ngày càng chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang xây dựng năng lực dài hạn. Việc kết hợp đầu tư cơ sở vật chất với chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ, hỗ trợ tuyến dưới và tăng cường nghiên cứu khoa học giúp các dự án không dừng lại sau khi kết thúc viện trợ mà tiếp tục phát huy giá trị trong hoạt động thường xuyên của hệ thống y tế.

Trong giai đoạn hiện nay, khi quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 11/2023, hợp tác y tế càng có thêm không gian phát triển. Những thách thức chung như già hóa dân số, gia tăng bệnh không lây nhiễm, nguy cơ dịch bệnh mới nổi, nhu cầu phát triển công nghệ y tế và bảo đảm an ninh y tế đang mở ra nhiều lĩnh vực hợp tác thiết thực giữa hai nước.

Với Việt Nam, kinh nghiệm của Nhật Bản trong quản lý hệ thống y tế, chăm sóc người cao tuổi, phát triển công nghệ y sinh, đào tạo điều dưỡng và tổ chức dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao là những nguồn lực có giá trị. Ngược lại, sự phát triển của hệ thống y tế Việt Nam cũng mở ra cơ hội để hai bên tăng cường nghiên cứu, trao đổi chuyên gia, chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển các giải pháp y tế phù hợp với nhu cầu của khu vực.

Quan trọng hơn, y tế là lĩnh vực hợp tác mang đậm tính nhân văn, nơi thành quả của quan hệ song phương được thể hiện trực tiếp qua chất lượng điều trị, cơ hội tiếp cận dịch vụ và sự an toàn của mỗi người dân.

Từ những công trình hữu nghị đã được xây dựng đến các chương trình hợp tác công nghệ, đào tạo và ứng phó dịch bệnh đang được triển khai, hợp tác y tế Việt Nam – Nhật Bản không chỉ góp phần nâng cao năng lực ngành Y tế mà còn tiếp tục bồi đắp lòng tin, sự gắn kết và nền tảng hợp tác lâu dài giữa hai quốc gia.