Khơi thông nguồn lực, phát huy năng lực lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 9/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 156-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng (Kế hoạch).
![]()
Phát huy hiệu quả giá trị di sản văn hóa và năng lực hiện có của lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng
Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng (Thông báo số 156-TB/VPTW).
Đồng thời cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ được giao tại Thông báo số 156-TB/VPTW thành các nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách và lộ trình thực hiện; xác định rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tổ chức thực hiện.
Khẩn trương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực, phát huy hiệu quả giá trị di sản văn hóa và năng lực hiện có của lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, tạo nền tảng để phát huy có hiệu quả giá trị di sản văn hóa trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực để phát triển đất nước, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Rà soát toàn diện hệ thống bảo tồn và các thiết chế văn hóa lớn
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là rà soát toàn diện hệ thống bảo tồn, bảo tàng và các dự án thiết chế văn hoá lớn. Trong đó, rà soát sơ bộ, nhận diện những vấn đề cấp bách đối với hệ thống bảo tồn, bảo tàng (bảo tàng, di tích) và các dự án thiết chế văn hoá lớn.
Rà soát, đánh giá, phân loại toàn diện thực trạng của hệ thống bảo tồn, bảo tàng, cụ thể: Thống kê đầy đủ số lượng, loại hình bảo tàng và tập trung làm rõ tình trạng mất cân đối, thiếu hụt về loại hình trong tổng thể hệ thống bảo tàng và xác định rõ khoảng trống cần bổ sung; trên cơ sở đó, đánh giá thực chất hiệu quả hoạt động, chỉ rõ những bảo tàng hoạt động hiệu quả. Thống kê, đánh giá tình trạng các di tích, mức độ xuống cấp của các thiết chế đang vận hành và các dự án thiết chế văn hóa lớn để xác định thứ tự ưu tiên đầu tư; khắc phục tình trạng sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá, kéo dài, đầu tư nhiều lần nhưng không giải quyết căn bản vấn đề.
Chủ động làm giàu các bộ sưu tập hiện vật có giá trị mang tầm cỡ quốc gia; nghiên cứu cơ chế và tổ chức hoạt động đưa những cổ vật, hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang được lưu giữ ở nước ngoài về nước, góp phần hoàn chỉnh câu chuyện lịch sử và làm giàu ký ức quốc gia.
Rà soát có hệ thống những khoảng trống trong nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và đương đại, đặc biệt, ưu tiên xác định các nhóm tư liệu, hiện vật, công trình, bộ sưu tập và nguồn ký ức trong những lĩnh vực đang biến đổi nhanh và những nguồn tư liệu có nguy cơ mất đi, không thể phục hồi.
Nhận diện đúng những giá trị cần lưu giữ và xác định cụ thể phương án bảo tồn những giá trị đã trở thành một phần của lịch sử, trước khi những giá trị đó mất đi, trong đó tập trung vào những tư liệu được hình thành từ quá trình kiến thiết đất nước, thành tựu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mô hình phát triển mới của đất nước.
Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá "tiềm năng di sản"
Hình thành năng lực nhận diện, gìn giữ và kiến tạo những giá trị có thể trở thành di sản của tương lai ngay từ khi các giá trị đó đang được hình thành.
Xây dựng hệ thống tiêu chí, quy trình và cơ chế phối hợp để đánh giá "tiềm năng di sản" đối với một số nhóm công trình, sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt (bao gồm cả các công trình của doanh nghiệp tư nhân) ngay từ giai đoạn quy hoạch và chuẩn bị đầu tư.
Đối với những công trình có tiềm năng đặc biệt, được xác định ưu tiên đầu tư, nghiên cứu, lập "hồ sơ ký ức" ngay từ khi khởi công để lưu giữ quá trình thiết kế, xây dựng, vận hành, cải tạo và những sự kiện quan trọng gắn với công trình, phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị lâu dài.
Thiết lập kho dữ liệu văn hoá số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông
Kế hoạch cũng đặt ra nhiệm vụ thiết lập kho dữ liệu văn hoá số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài. Xây dựng thể chế, chính sách đặc thù để phát triển dữ liệu, trí tuệ nhân tạo trong bảo vệ, bảo tồn và chuyển hoá giá trị văn hoá thành giá trị kinh tế để phát triển công nghiệp văn hoá.
Trong đó, đánh giá thực chất kết quả triển khai các chương trình số hoá di sản và dữ liệu văn hoá hiện có, làm rõ những nhiệm vụ trùng lặp, phân tán, không tương thích hoặc chưa có chuẩn chung.
Thiết lập và đưa vào vận hành, khai thác Kho dữ liệu văn hoá số quốc gia bảo đảm thống nhất, kết nối, liên thông, đồng bộ trên toàn quốc theo tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài; ưu tiên trước hết đối với các bảo tàng quốc gia, bảo tàng lớn, cơ quan lưu trữ và một số địa phương có điều kiện.
Bảo đảm mỗi hiện vật khi đưa vào kho dữ liệu dùng chung phải có định danh thống nhất, thông tin về nguồn gốc, hồ sơ khoa học và dữ liệu tương ứng; dữ liệu về di tích, tài liệu, bộ sưu tập từng bước được tổ chức, bảo đảm có nguồn gốc, ngữ cảnh, thẩm quyền xác thực, khả năng truy xuất và liên kết.
