Siết chặt thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số
Những ngày gần đây, các lực lượng chức năng liên tục triển khai các đợt kiểm tra, xử lý hàng giả, hàng nhái, hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên cả thị trường truyền thống lẫn không gian mạng. Hàng loạt vụ việc liên quan đến mỹ phẩm, thực phẩm, hàng tiêu dùng, sản phẩm giả mạo nhãn hiệu bị phát hiện cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của chính phủ trong việc lập lại trật tự thị trường. Tuy nhiên, câu chuyện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chắc chắn không chỉ dừng lại ở những hàng hóa hữu hình. Khi việc thực thi pháp luật ngày càng quyết liệt bản quyền số, đặc biệt là phần mềm máy tính, nhiều khả năng sẽ trở thành một trong những lĩnh vực được quan tâm trong thời gian tới.
Khi Chính phủ đã chính thức tuyên chiến
Sáng 2/6, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thời gian qua vẫn diễn biến phức tạp với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, đặc biệt trên môi trường số và trong hoạt động thương mại điện tử. Các hành vi xâm phạm bản quyền phim, âm nhạc, trò chơi điện tử, phần mềm; sản xuất và buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng cũng như môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026 về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù thời gian triển khai thực hiện chưa dài, nhưng với quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự phối hợp đồng bộ của các lực lượng chức năng, công tác đấu tranh, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất đáng khích lệ.

Nhìn lại lịch sử, vấn đề bản quyền phần mềm từng là một trong những nội dung được các đối tác thương mại lớn, đặc biệt là Mỹ, nhiều lần đề cập trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và đàm phán gia nhập WTO. Khi đó, điều kiện kinh tế còn khó khăn khiến việc phổ cập phần mềm có bản quyền chưa thực sự khả thi đối với phần lớn người dùng. Nhưng bối cảnh hiện nay đã khác. Việt Nam không chỉ là thành viên của WTO mà còn tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những cam kết chặt chẽ hơn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao cũng đòi hỏi môi trường kinh doanh minh bạch và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao hơn.
Ai sẽ là những đối tượng đầu tiên phải mua phần mềm có bản quyền?
Nếu hoạt động kiểm tra, giám sát được mở rộng sang lĩnh vực phần mềm, nhóm chịu tác động đầu tiên nhiều khả năng sẽ không phải là người dùng phổ thông. Trên thực tế, các doanh nghiệp mới là đối tượng sử dụng phần mềm với số lượng lớn nhất. Từ các tập đoàn, doanh nghiệp quy mô lớn cho tới những công ty thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông với ngân sách quảng bá đáng kể, phần lớn hệ thống máy tính đang vận hành trên nền tảng Windows và sử dụng các bộ ứng dụng văn phòng của Microsoft.
Việc sử dụng phần mềm có bản quyền không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn ngày càng trở thành tiêu chí đánh giá mức độ chuyên nghiệp, minh bạch của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh mở rộng hợp tác quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, nhóm người có thu nhập cao, những cá nhân có ảnh hưởng lớn trong xã hội cũng được cho là sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng phần mềm hợp pháp nhằm tránh các rủi ro pháp lý cũng như bảo đảm hình ảnh cá nhân.

Nếu công tác thực thi bản quyền phần mềm được đẩy mạnh, thị trường Việt Nam sẽ mở ra cơ hội tăng trưởng đáng kể cho các doanh nghiệp cung cấp phần mềm hợp pháp. Trong đó, những doanh nghiệp có thị phần lớn ở các phân khúc hệ điều hành, ứng dụng văn phòng và dịch vụ số, như Microsoft, có thể ghi nhận những tác động tích cực từ xu hướng này.
Điều đáng tiếc là hơn hai thập niên trước, Việt Nam từng có những nỗ lực đáng chú ý nhằm xây dựng các giải pháp thay thế sản phẩm ngoại. Vietkey Linux và Vietkey Office, những sản phẩm từng giành Giải thưởng Trí tuệ Việt Nam năm 2002, đã cho thấy năng lực sáng tạo của đội ngũ kỹ sư trong nước. Tuy nhiên, các sản phẩm đã không có cơ hội bước vào hệ sinh thái phần mềm với giá cả hợp lý do không nhận được sử ủng hộ xứng đáng của cộng đồng doanh nghiệp. Trong khi đó, các nền tảng quốc tế ngày càng mở rộng độ phủ và trở thành lựa chọn quen thuộc của cả người dùng cá nhân lẫn doanh nghiệp.
