Tạo lực đẩy mới cho doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam bứt phá
Không chỉ hướng tới sản xuất tại Việt Nam, Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030 đặt trọng tâm vào mục tiêu sáng tạo tại Việt Nam, làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và dịch vụ số, qua đó tạo lực đẩy mới để doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam bứt phá.

Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số - Ảnh: VGP/TG
Từ gia công, lắp ráp đến làm chủ công nghệ và thương hiệu Việt
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 840/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm đưa công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật nền tảng, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.
Chương trình đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng đến năm 2030. Theo đó, doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt ít nhất 55 tỷ USD mỗi năm; tốc độ tăng trưởng trung bình toàn ngành đạt từ 12% trở lên. Việt Nam cũng hướng tới xây dựng hệ sinh thái với ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động và phát triển đội ngũ hơn 3 triệu nhân lực công nghệ số.
Trao đổi về ý nghĩa của chương trình, ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho biết chương trình không đặt trọng tâm vào việc tạo ra các cơ chế, chính sách mới mà tập trung vào tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách đã được ban hành trong thời gian qua.
Theo ông Tú, thời gian qua cơ quan quản lý đã nỗ lực hoàn thiện thể chế với nhiều cơ chế, chính sách quan trọng phục vụ phát triển công nghệ và công nghiệp công nghệ số. Trong đó có Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo nền tảng pháp lý và những cơ chế mang tính đột phá cho doanh nghiệp.
"Chương trình lần này là bước tiếp theo nhằm xác định các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để gắn với các cơ chế, chính sách đã được ban hành, bảo đảm các chính sách đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả", ông Tú nhấn mạnh.
Đáng chú ý, chương trình được triển khai trên tinh thần "Make in Vietnam". Tuy nhiên, theo lãnh đạo Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin, khái niệm này không chỉ dừng lại ở việc sản xuất tại Việt Nam mà còn hướng tới sáng tạo tại Việt Nam, làm chủ công nghệ tại Việt Nam và từng bước xây dựng các sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu công nghệ số mang dấu ấn Việt Nam.
Ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin (Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/TG
Nâng vị thế doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị
Theo ông Trần Anh Tú, chương trình không phủ nhận vai trò của hoạt động gia công, lắp ráp - lĩnh vực đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành công nghệ thông tin trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, mục tiêu lớn hơn là từng bước nâng cao vị trí của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo đó, doanh nghiệp sẽ được khuyến khích dịch chuyển từ các khâu có giá trị gia tăng thấp sang các công đoạn có giá trị cao hơn như nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển sản phẩm và thương hiệu.
Ông Tú cho rằng các mục tiêu về phát triển doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu và hình thành các doanh nghiệp làm chủ công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc mở rộng lực lượng doanh nghiệp công nghệ số sẽ tạo nền tảng cho hệ sinh thái phát triển mạnh mẽ hơn. Tăng doanh thu giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong khi đó, mục tiêu hình thành các doanh nghiệp làm chủ công nghệ gắn liền với năng lực nghiên cứu, phát triển các sản phẩm trọng điểm và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường lớn.
Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu
Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, chương trình xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, nhiều giải pháp tập trung trực tiếp vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
Giải pháp đầu tiên là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Chương trình đặt ra các nhiệm vụ hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo; đồng thời triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số theo quy định pháp luật.
Theo ông Tú, đây là cách để tạo ra không gian phù hợp cho doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các mô hình sản phẩm mới trước khi đưa ra thị trường.
Giải pháp thứ hai là tạo lập thị trường ban đầu và các bài toán thực tiễn cho doanh nghiệp. Theo đó, Nhà nước sẽ thúc đẩy các hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, thuê và mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm theo quy định. Đồng thời, tăng cường các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ và kích cầu sử dụng sản phẩm công nghệ số trong nước.
"Doanh nghiệp muốn đầu tư dài hạn cho công nghệ lõi cần có thị trường ban đầu, có môi trường để kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm", ông Tú cho biết.
Giải pháp thứ ba là phát triển năng lực thực chất cho doanh nghiệp. Chương trình hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và xây dựng lực lượng doanh nghiệp công nghệ số chủ lực.
Cùng với đó, chương trình cũng chú trọng phát triển các hạ tầng dùng chung phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và đo kiểm sản phẩm công nghệ số. Các khu công nghệ số tập trung, phòng thí nghiệm, cơ sở đo kiểm, đánh giá chất lượng sản phẩm sẽ được đầu tư và khai thác hiệu quả hơn.
Một ví dụ điển hình là Trung tâm hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập, đặt tại Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin. Đây được xem là hạ tầng dùng chung quan trọng phục vụ các hoạt động sản xuất thử nghiệm, đo kiểm và phát triển sản phẩm bán dẫn trong nước.
Một trong những giải pháp đáng chú ý khác là hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo đó, chương trình tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu kỹ thuật trong nước cũng như quốc tế để đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và từng bước nâng cao vị thế trong các khâu có giá trị gia tăng cao.
Đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện, chương trình cũng khuyến khích khai thác hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động tiếp nhận, làm chủ công nghệ. Trong đó có các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, phòng thí nghiệm hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển ở nước ngoài để tiếp cận công nghệ tiên tiến.
Theo ông Trần Anh Tú, các giải pháp của chương trình được thiết kế theo hướng kết nối hiệu quả giữa hệ thống chính sách đã được ban hành với năng lực thực tế của doanh nghiệp và công tác tổ chức triển khai.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành một ngành công nghiệp công nghệ số phát triển bền vững, có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam và đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới.
