Tạo nền tảng pháp lý và dữ liệu cho kỷ nguyên phát triển bền vững kinh tế biển
Năm 2026 được kỳ vọng sẽ là năm bản lề để Cục Biển và Hải đảo Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản lý tổng hợp và tạo dựng nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là tập trung xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (thay thế), đẩy mạnh điều tra cơ bản và chuyển đổi số lĩnh vực biển...
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Cục Biển và Hải đảo Việt Nam diễn ra chiều 5/1/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa yêu cầu Cục tập trung triển khai hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ.
Đồng thời, tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng và khai thác hiệu quả hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu biển, tạo nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích lâu dài của đất nước.

Phát triển kinh tế biển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tháo gỡ vướng mắc, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về biển
Báo cáo tại Hội nghị, ông Nguyễn Đức Toàn, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cho biết: năm 2025 là một năm có nhiều khó khăn, thách thức đặc biệt trong bối cảnh tổ chức bộ máy được kiện toàn theo mô hình mới, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, phạm vi quản lý rộng và phức tạp hơn.
Tuy nhiên, với tinh thần chủ động, trách nhiệm và quyết tâm cao, Cục đã nhanh chóng ổn định tổ chức, vượt qua khó khăn và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao.
Một trong những kết quả nổi bật của Cục trong năm 2025 là công tác xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Trong năm, Cục được giao 7 nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, gồm 2 Nghị định và 5 Thông tư.
Nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành, góp phần tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Tiêu biểu như Nghị định số 65/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về giao khu vực biển; Thông tư số 15/2025/TT-BNNMT về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực biển và hải đảo.
Đặc biệt, Cục đã phối hợp hoàn thiện các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật được Quốc hội thông qua cuối năm 2025.
Song song với đó, Cục đã tiếp nhận và tham mưu giải quyết 33 hồ sơ đề nghị giao khu vực biển thuộc thẩm quyền; triển khai nhiệm vụ thẩm định hồ sơ cấp phép giao khu vực biển thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; tham gia góp ý các hồ sơ đề nghị giao khu vực biển thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo tiến độ giải quyết hồ sơ.
Công tác điều tra cơ bản biển và hải đảo tiếp tục được triển khai đồng bộ. Cục đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thúc đẩy thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển đến năm 2030; đồng thời tham mưu đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin hiện đại phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số lĩnh vực biển với việc hoàn thành cơ bản Hệ thống thông tin khai thác và sử dụng tài nguyên biển, triển khai từ Trung ương đến địa phương, phân cấp đến cấp xã và sẵn sàng đưa vào khai thác từ năm 2026.
Cục cũng đã thực hiện tốt công tác cấp phép nhận chìm ở biển, giám sát chặt chẽ các hoạt động nhận chìm theo quy định; đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, với 100% tỉnh, thành phố ven biển đã phê duyệt danh mục khu vực phải thiết lập hành lang.
Công tác phối hợp với các lực lượng trên biển tiếp tục được tăng cường, đặc biệt với Cảnh sát biển Việt Nam và lực lượng Công an, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.
Xây dựng Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, kết quả toàn diện mà Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã đạt được trong năm 2025, nhất là trong bối cảnh tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn theo mô hình mới, khối lượng và yêu cầu nhiệm vụ ngày càng gia tăng.
Về nhiệm vụ năm 2026, Thứ trưởng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong và ngoài Bộ, đặc biệt trong quá trình xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (thay thế). Cục cần bám sát và phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương trong việc tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, coi đây là nền tảng chính trị và thực tiễn quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển và hải đảo trong giai đoạn mới.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cần tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ trên cơ sở triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hướng tới nghiên cứu dài hạn, bài bản, phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong quản lý và phát triển bền vững tài nguyên, môi trường biển".
Bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, Thứ trưởng yêu cầu Cục tập trung triển khai hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng và khai thác hiệu quả hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu biển, qua đó tạo nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích lâu dài của đất nước.
Đồng thời, Cục cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực biển.
