Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 01/10/2026)
HNP - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 5408/QĐ-UBND ngày 01/10/2026 về việc phê duyệt Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026.
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 28/9/2026)
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 29/9/2026)
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 30/9/2026)
- Ký kết quy chế phối hợp về công nghệ thông tin, chuyển đổi số
|
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH Phê duyệt Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 5408/QĐ-UBND ngày 01/10/2026 về việc phê duyệt Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026. Theo Quyết định, phê duyệt Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn 126 xã, phường gồm 2.098 di sản văn hóa phi vật thể thuộc 06 loại hình theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở để thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể; xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản; lựa chọn, lập hồ sơ đề nghị đưa di sản vào Danh sách di sản văn hóa đại diện nhân loại, Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể. Danh mục kiểm kê được rà soát, cập nhật hằng năm hoặc khi cần thiết theo quy định của pháp luật. Sở Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các địa phương tổ chức công bố và phổ biến Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể; định kỳ rà soát, cập nhật, bổ sung Danh mục và trình Chủ tịch UBND Thành phố phê duyệt; tổ chức nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học đề xuất đưa các di sản tiêu biểu vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và đề cử ghi danh vào các Danh sách của UNESCO; xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản, ưu tiên đối với các di sản được UNESCO ghi danh, di sản thuộc Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, di sản có nguy cơ mai một và di sản cần ưu tiên bảo vệ; hướng dẫn xây dựng, cập nhật và tổng hợp cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa phi vật thể; UBND các xã, phường trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định của pháp luật; tổ chức công bố, phổ biến Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng; thực hiện số hóa, xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể thuộc phạm vi quản lý vào cơ sở dữ liệu của Thành phố; khuyến khích, tạo điều kiện và hỗ trợ cộng đồng thực hiện việc trao truyền, gìn giữ và phát huy giá trị di sản cho các thế hệ kế cận; rà soát, cập nhật thông tin về di sản và tổng hợp, báo cáo hằng năm theo quy định. Các cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, phối hợp triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Biểu dương, tôn vinh tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đỗ Anh Tuấn vừa ký ban hành Công văn số 5012/UBND-NC ngày 01/10/2026 về việc thực hiện Nghị định 307/2026/NĐ-CP ngày 04/8/2026 của Chính phủ. Theo đó, UBND Thành phố yêu cầu Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan và UBND các xã đôn đốc, hướng dẫn quy trình rà soát, lựa chọn, công nhận người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo đúng nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện quy định tại Nghị định số 307/2026/NĐ-CP. Thực hiện chính sách hỗ trợ về thông tin: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp thông tin; tổ chức các Đoàn người có uy tín tham quan, học tập kinh nghiệm tại các tỉnh, thành phố trong nước. Đồng thời, thực hiện chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần: Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết hoặc lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số; thăm hỏi, hỗ trợ kịp thời hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn đột xuất do sự cố, thiên tai, hỏa hoạn bị thiệt hại về người, về tài sản; thực hiện chính sách khen thưởng, tiếp đón. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Dân tộc và Tôn giáo và các Sở, ngành Thành phố, địa phương, đơn vị liên quan chủ động rà soát, cân đối, điều chỉnh dự toán và bố trí ngân sách địa phương. Hướng dẫn các Sở, ban, ngành Thành phố, địa phương liên quan về công tác quản lý, sử dụng và thanh quyết toán nguồn kinh phí theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật. Sở Khoa học và Công nghệ; Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội phối hợp với Sở Dân tộc và Tôn giáo, các Sở, ban, ngành Thành phố, các địa phương liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung của Nghị định số 307/2026/NĐ-CP đến toàn thể cán bộ, công chức, người có uy tín và nhân dân hiểu rõ, nắm chắc quy định nhằm phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng trong việc dân chủ, công khai lựa chọn người có uy tín. UBND các xã: Ba Vì, Suối Hai, Yên Bài, Yên Xuân, Mỹ Đức, Phú Cát, Trần Phú, Hòa Lạc chủ trì tổ chức rà soát, bầu chọn, công nhận người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo đúng quy định, hướng dẫn của Nghị định số 307/2026/NĐ-CP và văn bản số 2969/BDTTG-CS của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách hỗ trợ về thông tin, cung cấp thông tin cho người có uy tín của địa phương theo hình thức phù hợp; thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau; thăm viếng, động viên khi người có uy tín, thân nhân trong gia đình chết và khen thưởng đối với người có uy tín trên địa bàn theo quy định. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp chặt chẽ với các Sở, ngành Thành phố, địa phương liên quan trong việc triển khai thực hiện Nghị định số 307/2026/NĐ-CP; tiếp tục phát huy vai trò Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường và Ban Công tác Mặt trận khu dân cư tăng cường giám sát để đảm bảo việc tổ chức thực hiện tại địa phương đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời, đúng quy định. Phát triển 13 môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD và Olympic giai đoạn 2026 - 2045 Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà đã ký ban hành Kế hoạch số 383/KH-UBND ngày 30/9/2026 về phát triển các môn thể thao trọng điểm thành phố Hà Nội chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD và Olympic giai đoạn 2026 - 2045. Theo Kế hoạch, Thành phố phấn đấu duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về thể thao thành tích cao; tiếp tục đóng góp lực lượng nòng cốt cho Đoàn Thể thao Việt Nam tại ASIAD, Olympic và các giải vô địch châu Á, thế giới. Việc tổ chức đầu tư theo từng chu kỳ ASIAD, Olympic, gắn với kết quả chuyên môn của từng môn, nội dung và VĐV; thực hiện rà soát, sàng lọc định kỳ, tập trung nguồn lực cho các trường hợp có khả năng hoàn thành mục tiêu, không phân bổ bình quân, dàn trải. Giai đoạn 2026 - 2030, tập trung đầu tư 13 môn với khoảng 50 VĐV trọng điểm trên cơ sở thế mạnh hiện có của Hà Nội, mục tiêu thành tích và chương trình thi đấu ASIAD, Olympic, được chia thành 2 nhóm. Nhóm môn Olympic trọng điểm gồm 10 môn: Bắn cung, Bắn súng, Cử tạ, Đua thuyền, Điền kinh, Boxing, Thể dục, Vật, Đấu kiếm và Judo, với dự kiến 37 VĐV. Thành phố tập trung vào các nội dung có VĐV đạt hoặc tiệm cận chuẩn châu Á, thế giới; có khả năng vượt qua vòng loại, đạt chuẩn thành tích, thứ hạng hoặc các điều kiện để tham dự Olympic, từng bước tiếp cận nhóm cạnh tranh huy chương. Nhóm môn trọng điểm ASIAD gồm 3 môn: Cầu mây, Karate và Wushu, với dự kiến 13 VĐV. Mục tiêu là tập trung vào các nội dung có thế mạnh của Hà Nội, có thành tích ổn định tại các giải châu Á, thế giới và khả năng trực tiếp tranh chấp huy chương, nhất là huy chương vàng ASIAD. Danh mục môn, nội dung và VĐV trọng điểm sẽ được rà soát hằng năm và sau mỗi kỳ ASIAD, Olympic để điều chỉnh phù hợp với chương trình thi đấu, hệ thống vòng loại, thành tích thực tế và khả năng cạnh tranh quốc tế. Thành phố dự kiến phân cấp đầu tư thành 3 cấp. Cấp 1 là nhóm VĐV mục tiêu tham dự Olympic và huy chương vàng ASIAD, mỗi năm lựa chọn khoảng 8 - 10 VĐV hoặc nội dung có khả năng cao nhất để tập trung đầu tư. Nhóm này được ưu tiên cao nhất về chuyên gia, tập huấn, thi đấu quốc tế, khoa học công nghệ, y học thể thao, dinh dưỡng, phục hồi và trang thiết bị chuyên môn; được rà soát tối thiểu 2 lần/năm. Cấp 2 gồm các VĐV còn lại trong danh sách 50 VĐV trọng điểm giai đoạn 2026 - 2030, được xây dựng chương trình đào tạo theo từng môn, nội dung và ưu tiên tham dự các giải quốc tế cần thiết. Cấp 3 là lực lượng kế cận, được tuyển chọn từ tuyến năng khiếu, tuyến trẻ, trường học, câu lạc bộ và cơ sở đào tạo, nhằm bảo đảm nguồn bổ sung thường xuyên cho các nhóm đầu tư trọng điểm. Trong giai đoạn 2026 - 2030, Thành phố phấn đấu có ít nhất 2 VĐV vượt qua vòng loại, đạt chuẩn thành tích, thứ hạng hoặc các điều kiện theo quy định để tham dự Olympic 2028; có VĐV tiếp cận nhóm cạnh tranh huy chương. Thành phố phấn đấu VĐV Hà Nội đóng góp 1 - 2 huy chương vàng tại ASIAD và đạt thành tích cao tại các giải vô địch châu Á, thế giới. Giai đoạn 2031 - 2036, quy mô lực lượng trọng điểm dự kiến nâng lên khoảng 70 - 80 VĐV, phấn đấu có VĐV thuộc nhóm cạnh tranh huy chương tại Olympic 2032 và Olympic 2036, đồng thời đóng góp 2 - 3 huy chương vàng tại mỗi kỳ ASIAD trong giai đoạn. Giai đoạn 2037 - 2045, Thành phố tiếp tục rà soát danh mục môn, nội dung và VĐV theo từng chu kỳ; phấn đấu có VĐV Hà Nội giành huy chương Olympic, duy trì đóng góp từ 2 - 3 huy chương vàng trở lên tại mỗi kỳ ASIAD và hoàn thiện các điều kiện huấn luyện, thi đấu, khoa học, y học thể thao đáp ứng yêu cầu đào tạo VĐV trình độ châu Á, thế giới; đồng thời, tham gia chuẩn bị các điều kiện theo phân công của cấp có thẩm quyền để phục vụ mục tiêu Việt Nam đăng cai ASIAD năm 2038. Kế hoạch xác định hoàn thành rà soát 50 VĐV trọng điểm của 13 môn; hằng năm lựa chọn khoảng 08 - 10 VĐV hoặc nội dung Cấp 1. Xây dựng hồ sơ quản lý đối với 100% VĐV trọng điểm, gồm thành tích thi đấu, chỉ số thể lực và y sinh học, lịch sử chấn thương, thứ hạng quốc tế, mục tiêu từng năm, hệ thống giải cần tham dự và nhu cầu chuyên gia, tập huấn, dinh dưỡng, phục hồi; đánh giá tối thiểu 06 tháng/lần. Đối với nhóm môn Olympic, xác định hệ thống vòng loại, thời gian xét chuẩn, thứ hạng, các giải vòng loại hoặc giải có giá trị đối với việc tham dự Olympic của từng môn để xây dựng lịch huấn luyện, thi đấu cho từng VĐV. Đối với nhóm môn trọng điểm ASIAD, xác định các nội dung Thành phố có khả năng tranh chấp huy chương; đối chiếu thành tích của VĐV với nhóm huy chương tại ASIAD, giải vô địch châu Á và thế giới gần nhất để xây dựng chỉ tiêu chuyên môn. Xây dựng chương trình huấn luyện cá thể hóa theo năm đối với 100% VĐV Cấp 1, xác định rõ chỉ tiêu thể lực, kỹ thuật, thành tích, lịch tập huấn và số giải quốc tế cần tham dự. Thuê chuyên gia trong nước, quốc tế tập trung cho môn, nội dung và VĐV có mục tiêu cụ thể; gắn nhiệm vụ chuyên gia với chỉ tiêu chuyên môn và trách nhiệm chuyển giao phương pháp, giáo án cho huấn luyện viên. Khoa học công nghệ, y học và dinh dưỡng thể thao được xác định là một trong những giải pháp quan trọng. Thành phố ưu tiên kiểm tra thể lực, sinh lý vận động, phân tích kỹ thuật, phòng ngừa chấn thương, phục hồi, dinh dưỡng và tâm lý thi đấu cho VĐV Cấp 1 và nhóm môn Olympic. 100% VĐV trọng điểm có hồ sơ sức khỏe, trong đó vận động viên Cấp 1 được kiểm tra chuyên sâu tối thiểu 2 lần/năm và trước các giải mục tiêu quan trọng. Về cơ sở vật chất, giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên cải tạo, nâng cấp các địa điểm tập luyện hiện có phục vụ trực tiếp 13 môn trọng điểm, trước hết là các môn, nội dung và VĐV Cấp 1. Thành phố từng bước chuẩn hóa cơ sở vật chất của Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể thao Hà Nội để phục vụ đội tuyển Thành phố, phối hợp huấn luyện đội tuyển quốc gia và tổ chức các giải thể thao quốc tế. Nguồn lực được ưu tiên theo thứ tự Cấp 1, Cấp 2 và lực lượng kế cận; trong từng cấp tiếp tục ưu tiên các môn, nội dung có khả năng hoàn thành mục tiêu Olympic và giành huy chương vàng ASIAD. Bên cạnh nguồn lực ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội hóa hợp pháp để hỗ trợ đào tạo, thuê chuyên gia, tập huấn, thi đấu quốc tế, trang thiết bị và các điều kiện phục vụ trực tiếp vận động viên, đội tuyển các môn thể thao trọng điểm. Hiệu quả đầu tư được đánh giá theo đặc thù từng nhóm môn. Với nhóm Olympic, căn cứ vào chuẩn thành tích, thứ hạng quốc tế, kết quả vòng loại, các giải vô địch châu Á, thế giới và Olympic; với nhóm ASIAD, căn cứ thành tích tại các giải vô địch châu Á, thế giới, thứ hạng châu Á và khả năng tranh chấp huy chương ASIAD. Kết quả đánh giá là cơ sở để tiếp tục, tăng, giảm hoặc dừng đầu tư trọng điểm. |
