Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 28/9/2026)
HNP - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký Kế hoạch số 370/KH-UBND ngày 28/9/2026 về tổng thể về Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phú Thọ: Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu chấm dứt tình trạng nêu khó khăn nhưng không có phương án xử lý
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam làm việc với UBND thành phố Đà Nẵng về triển khai hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2026–2030
- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện việc tổ chức ăn bán trú
- PGS - TS Phạm Bảo Sơn được bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên với 100% phiếu tán thành
|
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH Tổng thể về Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký Kế hoạch số 370/KH-UBND ngày 28/9/2026 về tổng thể về Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Theo Kế hoạch, Thành phố phấn đấu trở thành trung tâm KH, CN&ĐMST hàng đầu cả nước, tiến tới nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á trên nền tảng thể chế vượt trội, hạ tầng đồng bộ và nhân lực chất lượng cao. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo mở, hội nhập; hình thành chuỗi năng lực "nghiên cứu - làm chủ - chuyển giao - thương mại hóa" công nghệ chiến lược và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ vươn tầm toàn cầu, góp phần kiến tạo năng lực tự chủ công nghệ quốc gia và dẫn dắt Vùng Thủ đô. Một trong những nhóm mục tiêu quan trọng là đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 57%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%; tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GRDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Riêng năm 2026 thực hiện bố trí 4% tổng chi cân đối ngân sách địa phương theo Nghị quyết của HĐND Thành phố, các năm tiếp theo tiếp tục ưu tiên nguồn lực. Về nguồn nhân lực và Tổ chức KH&CN, nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 14 người trên một vạn dân. Tăng tỷ lệ lực lượng lao động trí thức trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược lên tối thiểu 25%; thu hút trên 200 chuyên gia, nhà khoa học là trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu tham gia hợp tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ cho Thủ đô; có 8 - 10 tổ chức KH&CN được xếp hạng khu vực và thế giới; phát triển từ 3 - 5 tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập thuộc Thành phố thành tổ chức xuất sắc. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế của các tổ chức, cá nhân tăng bình quân 16 - 18%/năm. Tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại đạt 8% - 10% số văn bằng bảo hộ được cấp. Về hệ sinh thái và Doanh nghiệp ĐMST, phấn đấu đứng đầu cả nước chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Hình thành 10 trung tâm đổi mới sáng tạo trên địa bàn; chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Hướng tới hình thành 01 - 02 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được định giá từ 1 tỷ USD trở lên; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho 100% doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục đứng đầu cả nước. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 50%. Hình thành từ 3 - 5 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Về công nghệ lõi, Chuyển giao và Hạ tầng, ưu tiên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, IoT, chuỗi khối, 5G/6G, robot, bán dẫn, an ninh mạng, sinh học - y sinh, công nghệ đường sắt đô thị. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được chuyển giao thành công cho doanh nghiệp và thương mại hóa đạt tối thiểu 30%; phấn đấu thuộc nhóm 5 tỉnh/thành phố dẫn đầu cả nước về nghiên cứu, phát triển Trí tuệ nhân tạo (AI); bảo đảm 100% sản phẩm công nghệ chiến lược được định hướng rõ việc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế hoặc nước ngoài. Để thực hiện các mục tiêu trên, Thành phố sẽ hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chuyển từ quản lý theo đề tài đơn lẻ sang quản trị theo chương trình, sản phẩm và kết quả dựa trên hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu suất (OKR/KPI). Xây dựng và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới theo quy định của Luật Thủ đô và quy định pháp luật có liên quan, ưu tiên: Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, blockchain, robot, tài sản số, thiết bị bay không người lái (drone), công nghệ tài chính - fintech, xe tự hành, drone ứng dụng nông - lâm nghiệp, công nghệ y - sinh, vật liệu mới. Đối với việc thử nghiệm ứng dụng blockchain trong quản lý hồ sơ đất đai, chỉ xác định là thử nghiệm giải pháp kỹ thuật hỗ trợ lưu vết, đối chiếu, kiểm chứng dữ liệu. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế ưu tiên mua sắm công, đặt hàng công đối với các sản phẩm công nghệ "Make in Hanoi" / "Make in Viet Nam". Tạo đột phá trong hợp tác đầu tư để hình thành một số trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm của Thủ đô. Ưu tiên đầu tư hạ tầng cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo, Trung tâm tính toán thông minh phục vụ nghiên cứu, mô phỏng và huấn luyện mô hình AI. Tổ chức quản lý, vận hành và khai thác tối đa tiềm lực của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc với vai trò là trung tâm thử nghiệm cơ chế, chính sách KH&CN của Thủ đô và cả nước. Đẩy nhanh tiến độ Khu Công nghệ cao sinh học Hà Nội. Đưa vào hoạt động Khu Công viên công nghệ phần mềm Hà Nội. Xây dựng một số công viên chuyên đề công nghệ số. Đầu tư, hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội, các khu công nghiệp (Sóc Sơn, Đông Anh, Phù Đổng, Phú Hà...). Khuyến khích hình thành các cụm liên kết trí tuệ nhân tạo, phát triển các mô hình "không gian sáng tạo cộng đồng" tại cơ sở. Thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt, tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng, chuyên gia công nghệ chiến lược, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các chương trình, nhiệm vụ trọng điểm của Thủ đô. Chủ động tham gia vào Đề án đào tạo nhân lực công nghệ cao (AI, blockchain, IoT, bán dẫn...); Xây dựng Chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh đi học tập tại các cơ sở đào tạo trong nước. Tập trung nghiên cứu các mô hình quản trị đô thị hiện đại, các giải pháp phát triển "Công nghiệp văn hóa" và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hiến ngàn năm của Thủ đô trong kỷ nguyên số. Khuyến khích, hỗ trợ và nhân rộng các mô hình, sáng kiến đổi mới sáng tạo nhằm giải quyết các thách thức xã hội hiện nay (già hóa dân số, y tế cộng đồng, giáo dục, giảm nghèo bền vững và bảo vệ môi trường). Tập trung phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện theo mô hình "5 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà đầu tư - Nhà băng) trong việc phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; hỗ trợ đưa các sản phẩm đặc trưng vùng đồng bào dân tộc thiểu số (OCOP) lên các sàn thương mại điện tử để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tạo sinh kế bền vững. Xúc tiến, thu hút các Tập đoàn công nghệ đa quốc gia (FDI) lập trung tâm R&D tại Hà Nội. Mở rộng hợp tác chiến lược trong các lĩnh vực: trí tuệ nhân tạo, lượng tử, bán dẫn, sinh học. Hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, kết nối chuỗi cung ứng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài. Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường và đa dạng hóa các nền tảng truyền thông (đặc biệt là nền tảng số); chú trọng lồng ghép các nội dung truyền thông, lan tỏa các mô hình điểm, sáng kiến tiêu biểu vào hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở và các sự kiện văn hóa, nghệ thuật. Xây dựng và phổ biến bộ học liệu số hướng dẫn thủ tục hành chính, phổ cập kiến thức khoa học công nghệ theo tiêu chí "dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm" dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức tôn giáo. Khảo sát đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức về chất lượng phục vụ tại 12 sở và 126 xã, phường Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 372/KH-UBND ngày 28/9/2026 về triển khai khảo sát đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức về chất lượng phục vụ của các Sở, cơ quan tương đương Sở và UBND xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kế hoạch nhằm đo lường một cách định lượng và định tính hiệu quả của các Sở, cơ quan tương đương Sở và UBND các xã, phường trong việc cung cấp dịch vụ công cho người dân, đại diện tổ chức. Việc đo lường và cải thiện liên tục giúp dịch vụ công ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong đợi của người dân, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và chất lượng cuộc sống. Kết quả đo lường cung cấp thông tin phản hồi để các cơ quan nhà nước xác định điểm mạnh, tồn tại, hạn chế và đưa ra các giải pháp cải thiện, hoàn thiện quy trình, thủ tục hành chính (TTHC). Giúp bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp hơn, giảm thiểu phiền hà, nhũng nhiễu cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác góp phần vào sự phát triển chung của Thủ đô. Gắn kết trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức với sự hài lòng của người dân, tổ chức. Kết quả đo lường là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả công việc và thái độ phục vụ, xây dựng niềm tin vào hệ thống quản lý nhà nước ở các cấp chính quyền. Phạm vi khảo sát trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, tập trung vào 12 sở, cơ quan tương đương sở và 126 UBND xã, phường. Thời gian thu thập thông tin đánh giá từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2026. Đối tượng khảo sát gồm người dân đại diện hộ gia đình từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi, biết đọc, biết viết; cá nhân và người đại diện tổ chức đã giao dịch thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính nhà nước của Thành phố. Trong tổng số 9.960 phiếu, 960 phiếu được phân bổ cho 12 sở, cơ quan tương đương sở và 9.000 phiếu cho UBND các xã, phường. Đối với các sở, số lượng phiếu được phân bổ căn cứ vào tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và số giao dịch thủ tục hành chính đã thực hiện. Sở Xây dựng được phân bổ 160 phiếu; Sở Tài chính và Sở Nông nghiệp và Môi trường mỗi đơn vị 120 phiếu; Sở Công Thương và Sở Y tế mỗi đơn vị 100 phiếu. Đối với cấp xã, phường, Thành phố phân bổ 3.940 phiếu cho 51 phường và 5.060 phiếu cho 75 xã. Số lượng phiếu tại từng đơn vị được xác định theo quy mô dân số, với mức từ 20 đến 100 phiếu/đơn vị. Khảo sát được thực hiện bằng nhiều hình thức, gồm khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi và khảo sát trực tiếp trên nền tảng trực tuyến. Điều tra viên có thể phát phiếu tại địa bàn dân cư, tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của Thành phố hoặc các điểm phục vụ hành chính công của các sở, cơ quan tương đương sở và 126 xã, phường. Đối với hình thức trực tuyến, điều tra viên hướng dẫn người dân truy cập đường link hoặc quét mã QR để tự trả lời phiếu khảo sát trên nền tảng phần mềm khảo sát cải cách hành chính của Thành phố. Theo phân bổ, 2.988 phiếu, tương ứng 30% tổng số phiếu, được thực hiện trực tiếp trên nền tảng trực tuyến; 6.972 phiếu, tương ứng 70%, thực hiện bằng phiếu giấy. Nội dung khảo sát tập trung vào các nhóm chỉ số về mức độ hài lòng của người dân, đại diện tổ chức, gồm chỉ số hài lòng theo tiêu chí, yếu tố, nội dung và chỉ số hài lòng chung về sự phục vụ hành chính; đồng thời đánh giá nhóm chỉ số về nhu cầu, mong đợi của người dân, đại diện tổ chức. Kết quả đánh giá Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ hành chính (SIPAS) của các sở, cơ quan tương đương sở được xếp theo 3 mức. Mức A là mức độ hài lòng từ 90% trở lên; mức B từ 80% đến dưới 90%; mức C dưới 80%. Đối với UBND xã, phường, kết quả cũng được đánh giá theo 3 mức A, B, C, đồng thời phân thành hai nhóm gồm UBND xã và UBND phường để đánh giá. Thực hiện Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030 Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 371/KH-UBND ngày 28/9/2026 về thực hiện Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Theo đó, đến năm 2030, Thành phố phấn đấu 100% gia đình có trẻ em được cung cấp kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em bằng các hình thức khác nhau; 100% học sinh được hướng dẫn kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ trước các hành vi xâm hại trẻ em, bạo lực học đường, bạo lực trên môi trường mạng, kỹ năng phòng ngừa lao động trẻ em với nội dung phù hợp với lứa tuổi. 100% công chức, viên chức, người làm công tác bảo vệ trẻ em trong cơ quan quản lý y tế, giáo dục; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở giáo dục và cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ trẻ em được nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em, lao động trẻ em. 90% doanh nghiệp đang hoạt động, hợp tác xã, hộ gia đình và cơ sở kinh doanh dịch vụ được cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa, phát hiện, giảm thiểu lao động trẻ em. 95% cấp xã triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành và 100% cấp xã thành lập phòng điều tra thân thiện. Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục ít nhất 5% mỗi năm; giảm tỷ lệ lao động trẻ em (người từ 05 - 17 tuổi) xuống dưới 1,1%. 100% trẻ em bị xâm hại, lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi khi được phát hiện được hỗ trợ, can thiệp kịp thời, phù hợp; 100% yêu cầu trợ giúp pháp lý cho trẻ em được đáp ứng theo quy định của pháp luật. 100% trẻ em bị xâm hại, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được quản lý trên hệ thống cơ sở dữ liệu trẻ em và kết nối dùng chung với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan. UBND Thành phố yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong thực hiện Chương trình - Đưa các chỉ tiêu trong Kế hoạch vào nhiệm vụ, lồng ghép trong xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của cấp ủy, chính quyền, các ngành giai đoạn 2026 - 2030 nhằm thực hiện tốt các chỉ tiêu đề ra. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Chương trình thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn quản lý. Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về trẻ em. Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, tham mưu, đề xuất xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về trẻ em phù hợp với tình hình thực tiễn của Thành phố; rà soát, kiến nghị điều chỉnh sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến trẻ em. Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động xã hội về công tác trẻ em theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, khai thác hiệu quả các nền tảng số và mạng xã hội, bảo đảm phù hợp với từng nhóm đối tượng, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, đơn vị; ưu tiên cho các vấn đề mới, vấn đề thực tiễn đặt ra đối với công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em. Tăng cường lồng ghép, phối hợp cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý, trợ giúp xã hội; thúc đẩy kết nối giữa cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Ưu tiên đầu tư, củng cố và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em như Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em Hà Nội, các cơ sở trợ giúp xã hội, điểm tư vấn tại cộng đồng, trường học và các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em khác. Tăng cường các hoạt động phòng ngừa, phát hiện sớm các trường hợp lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, chuỗi cung ứng, tại cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình, kinh doanh cá thể, làng nghề, khu vực kinh tế phi chính thức và các lĩnh vực, địa bàn có nguy cơ phát sinh lao động trẻ em. Tổ chức thực hiện quy trình hỗ trợ, can thiệp lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, đặc biệt bảo đảm trẻ em được tiếp cận đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, y tế, giáo dục phổ thông, trợ giúp pháp lý, học nghề, đào tạo nghề và các dịch vụ bảo vệ trẻ em phù hợp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về trẻ em; tiếp tục rà soát, cập nhật, chuẩn hóa và khai thác hiệu quả dữ liệu trẻ em trên Hệ thống thông tin quản lý trẻ em tại cơ sở. Từng bước nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ số trong công tác tiếp nhận thông tin, theo dõi, quản lý, hỗ trợ và can thiệp đối với trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục, bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, trở thành lao động trẻ em. |
