Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 29/9/2026)
HNP - Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 131/2026/QĐ-UBND ngày 28/9/2026 về việc ban hành Quy chế quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thành phố Hà Nội.
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 21/4
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/4
- Hội nghị kết nối thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trên môi trường mạng với Cổng TTĐT các bộ, ngành, địa phương
- Thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND Thành phố, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (ngày 28/9/2026)
|
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH Ban hành Quy chế quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thành phố Hà Nội Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 131/2026/QĐ-UBND ngày 28/9/2026 về việc ban hành Quy chế quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thành phố Hà Nội. Theo Quyết định, Quy chế gồm 05 Chương 34 Điều quy định việc quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thành phố Hà Nội; áp dụng với các đối tượng là cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp thuộc quản lý của Thành phố; quỹ Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo của Thủ đô và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Việc quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo Thành phố tuân theo nguyên tắc tuyển chọn, xét tài trợ, giao trực tiếp phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng và khách quan. Doanh nghiệp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chịu trách nhiệm theo quy định tại Quy chế này và trách nhiệm theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc tổ chức, quản lý, thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo thuộc danh mục bí mật nhà nước, có nội dung bí mật nhà nước phải tuân thủ quy định của pháp luật bảo vệ bí mật nhà nước. Các nội dung khác liên quan đến quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo chưa được quy định cụ thể tại Quy chế này được thực hiện theo quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các quy định của pháp luật có liên quan. Cùng với đó, tiêu chí, yêu cầu đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo Thành phố cần có mục tiêu, nội dung phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố Hà Nội, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nội dung thông báo đặt hàng, tài trợ nhiệm vụ. Đáp ứng các tiêu chí chung quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP. Ngoài các tiêu chí chung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tùy theo loại nhiệm vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP, nhiệm vụ đổi mới sáng tạo còn phải đáp ứng một trong các tiêu chí tương ứng. Cụ thể, đối với nhiệm vụ đổi mới công nghệ thì việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc mô hình kinh doanh mới, hoặc có cải tiến đáng kể so với hiện có; kèm theo các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế cụ thể và khả năng đưa vào ứng dụng; và phải có một trong các hoạt động sau: Thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ mới, tiên tiến hoặc công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu suất, giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, sinh thái; làm chủ, nội địa hóa công nghệ cốt lõi hoặc công nghệ quan trọng, giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu; có khả năng nhân rộng trong ngành, lĩnh vực; có hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết hợp pháp về chuyển giao công nghệ; bên nhận chuyển giao công nghệ có phương án phù hợp để tiếp nhận, làm chủ và phát triển sản phẩm trên nền công nghệ được chuyển giao; trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ phải chứng minh theo quy định pháp luật. Đối với nhiệm vụ phát triển quyền sở hữu trí tuệ thuộc nhiệm vụ phát triển quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Sản phẩm đầu ra là kết quả của các hoạt động đăng ký, bảo hộ, quản lý, khai thác, định giá, phát triển quyền sở hữu trí tuệ; thực hiện hoạt động bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao năng lực về sở hữu trí tuệ; thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi và phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đối với nhiệm vụ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc nhiệm vụ phát triển quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Kết quả, sản phẩm được ứng dụng hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn, có tính bền vững và có khả năng duy trì, nhân rộng sau khi nghiệm thu; đánh giá đầy đủ hiện trạng công nghệ, dây chuyền, thiết bị và quy trình sản xuất; xác định rõ hạn chế, nút thắt và mục tiêu cải tiến; lập và triển khai kế hoạch nâng cấp, đổi mới, hiện đại hóa thiết bị gắn với áp dụng tự động hóa, công nghệ số và các mô hình, hệ thống quản trị tiên tiến; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và công cụ cải tiến năng suất; có chỉ số đo lường hiệu suất được xác định so sánh cụ thể và chứng minh được hiệu quả cải tiến thời điểm trước và sau khi triển khai; thực hiện giải pháp kỹ thuật, quản lý và phát triển nguồn nhân lực nhằm khai thác tối đa năng lực công nghệ, giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, chuyển giao kỹ năng về vận hành, bảo dưỡng và cải tiến liên tục cho đội ngũ nhân sự liên quan; bảo đảm năng lực làm chủ công nghệ và tính bền vững của nhiệm vụ sau khi kết thúc. Về nhiệm vụ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo phải có giải pháp thu hút chuyên gia, nhà đầu tư, doanh nghiệp lớn trong nước, quốc tế nhằm thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, dự án khởi nghiệp sáng tạo; có giải pháp huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, quỹ đầu tư, tổ chức quốc tế, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; có giải pháp nâng cao năng lực, tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; có đội ngũ chuyên gia hoặc đối tác hỗ trợ về công nghệ, sở hữu trí tuệ, pháp lý, tài chính, quản trị, marketing, kết nối đầu tư; có giải pháp hỗ trợ thông tin, truyền thông, xúc tiến thương mại cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, dự án khởi nghiệp sáng tạo. Triển khai xây dựng vị trí việc làm viên chức theo quy định Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Kế hoạch số 375/KH-UBND ngày 29/9/2026 về triển khai xây dựng vị trí việc làm viên chức theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ và Nghị quyết số 51/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 của HĐND Thành phố quy định về vị trí việc làm và biên chế các cơ quan trong hệ thống chính quyền Thành phố. Kế hoạch nhằm tổ chức triển khai thống nhất việc xác định vị trí việc làm viên chức, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực, xác định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp, phê duyệt vị trí việc làm và bố trí viên chức theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Rà soát, tổng hợp các trường hợp phát sinh nhiệm vụ, yêu cầu công việc chưa có vị trí việc làm tương ứng trong danh mục do Chính phủ, Bộ, ngành quy định, trên cơ sở kết quả xây dựng vị trí việc làm theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP và quy định của pháp luật chuyên ngành, làm cơ sở xem xét đề xuất bổ sung vị trí việc làm viên chức mới theo Nghị quyết số 51/2026/NQ-HĐND. Đối tượng thực hiện gồm ĐVSNCL thuộc UBND Thành phố; ĐVSNCL thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố; ĐVSNCL thuộc ĐVSNCL thuộc UBND Thành phố. ĐVSNCL thuộc chi cục và tương đương thuộc sở. ĐVSNCL thuộc tổ chức hành chính khác thuộc UBND Thành phố. ĐVSNCL thuộc UBND xã, phường. Viên chức làm việc tại các ĐVSNCL nêu trên và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Theo Kế hoạch, các đơn vị sẽ căn cứ Danh mục vị trí việc làm viên chức quản lý, Danh mục vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ để rà soát, lựa chọn vị trí việc làm sử dụng tại đơn vị và bậc nghề nghiệp tương ứng của từng vị trí việc làm. Xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm theo mẫu nội dung được cụ thể hóa theo lĩnh vực chuyên môn, hoạt động nghề nghiệp và phù hợp với hướng dẫn về chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh, điều kiện hành nghề của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực (nếu có). Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; không thay đổi tên gọi, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Các cơ quan, đơn vị không tự xác định, sử dụng vị trí việc làm ngoài danh mục khung khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định. Đối với vị trí việc làm quản lý: một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm; trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm. Đối với ĐVSNCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên từ 10% đến dưới 70%, Kế hoạch quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp. Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5, tỷ lệ viên chức ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí đó; tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất (bậc 4) không vượt quá 40%; tỷ lệ ở các bậc còn lại do đơn vị xác định. Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4, tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí đó; tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại do đơn vị xác định. Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 02 bậc nghề nghiệp, tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí đó. Tỷ lệ các bậc thấp hơn còn lại do ĐVSNCL xác định cụ thể. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp bao gồm cả viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý. Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên từ 70% trở lên quy định tại Nghị quyết số 54/2026/NQ-HĐND; ĐVSNCL là tổ chức khoa học và công nghệ công lập và trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm: Thủ trưởng đơn vị được quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỷ lệ quy định tại điểm a nêu trên bảo đảm phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị theo quy định. Trong quá trình rà soát, xác định vị trí việc làm theo khoản 1 Mục này, các đơn vị đối chiếu chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu công việc thực tế với danh mục vị trí việc làm ban hành kèm theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP và danh mục vị trí việc làm theo quy định của pháp luật chuyên ngành; tổng hợp các nhiệm vụ, yêu cầu công việc phát sinh nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, cung ứng dịch vụ sự nghiệp công hoặc yêu cầu phát triển ngành, lĩnh vực của Thành phố chưa có vị trí việc làm tương ứng. Không tổng hợp đề xuất bổ sung vị trí việc làm mới đối với trường hợp nhiệm vụ, yêu cầu công việc có thể bố trí vào vị trí việc làm hiện có và được cụ thể hóa trong bản mô tả công việc, khung năng lực hoặc bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm theo quy định. Theo tiến độ, trong quý III và quý IV/2026, các ĐVSNCL xác định vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực, dự kiến tỷ lệ bố trí viên chức theo bậc nghề nghiệp; đồng thời rà soát, tổng hợp các nhiệm vụ, yêu cầu công việc phát sinh chưa có vị trí việc làm tương ứng. Các đơn vị hoàn thiện dự thảo và chuẩn bị hồ sơ đề nghị phê duyệt vị trí việc làm trong quý III và quý IV/2026. Sang quý I/2027, Sở Nội vụ và các cơ quan được phân cấp thực hiện thẩm định, phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm theo quy định. Sau khi tổng hợp các vị trí việc làm đặc thù, Sở Nội vụ hướng dẫn lập hồ sơ, thẩm định, báo cáo UBND Thành phố trình HĐND Thành phố xem xét, quyết định đối với trường hợp đủ điều kiện đề xuất bổ sung vị trí việc làm viên chức mới theo Điều 10 Nghị quyết số 51/2026/NQ-HĐND. Sau khi vị trí việc làm được phê duyệt, các cơ quan, đơn vị thực hiện rà soát, chuyển tiếp và bố trí viên chức vào bậc nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm. Việc bố trí viên chức phải hoàn thành trước ngày 30/6/2027. Thực hiện nhiệm vụ, giải pháp lưu trữ dự phòng tài liệu lưu trữ Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Kế hoạch số 376/KH-UBND ngày 29/9/2026 về triển khai thực hiện Quyết định số 76/QĐ-TTg ngày 12/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ, giải pháp lưu trữ dự phòng tài liệu lưu trữ. Mục tiêu của Kế hoạch nhằm tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp lưu trữ dự phòng tài liệu lưu trữ theo Quyết định số 76/QĐ-TTg; bảo đảm an toàn, toàn vẹn, độ tin cậy, độ chính xác của thông tin và khả năng sử dụng lâu dài đối với tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng. Rà soát, thống kê, xác định tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt và tài liệu lưu trữ vĩnh viễn có nguy cơ bị hỏng đang bảo quản tại Lưu trữ lịch sử Thành phố; lập Danh mục tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng theo quy định. Tổ chức số hóa, tạo lập dữ liệu chủ; phối hợp kiểm tra chất lượng, bàn giao sản phẩm số hóa và dữ liệu chủ để tạo lập tài liệu lưu trữ dự phòng. Kế thừa kết quả chỉnh lý, số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ đã thực hiện; sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực hiện có; tránh đầu tư trùng lặp, lãng phí. Đối tượng thực hiện gồm tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt; tài liệu lưu trữ giấy và tài liệu lưu trữ trên vật mang tin khác có một trong các dấu hiệu: nhạt màu, đổi màu, rách, thủng lỗ, mủn, giòn, mờ chữ nhưng vẫn còn khả năng đọc được thông tin; tài liệu lưu trữ điện tử có một trong các dấu hiệu: công nghệ tạo lập tài liệu lạc hậu, có khả năng bị thay thế; tài liệu có nguy cơ không sử dụng được hoặc không xác thực được. Trong giai đoạn 2026-2027, Thành phố sẽ tổ chức tuyên truyền, phổ biến Quyết định số 76/QĐ-TTg và Kế hoạch của UBND Thành phố; rà soát hiện trạng tài liệu đang bảo quản tại Lưu trữ lịch sử Thành phố; rà soát kết quả chỉnh lý, số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu đã thực hiện để xác định khối lượng được kế thừa và khối lượng cần tiếp tục thực hiện; hoàn thành việc rà soát, thống kê, lập Danh mục tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng theo mẫu hướng dẫn của Bộ Nội vụ; gửi Bộ Nội vụ (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) xem xét, tổng hợp. Giai đoạn 2026 - 2033, tổ chức số hóa tài liệu thuộc Danh mục tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng; tạo lập đầy đủ dữ liệu chủ; phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm số hóa trước khi bàn giao. Giai đoạn 2027 - 2033, định kỳ, ngày 15/12 hằng năm bàn giao sản phẩm số hóa và dữ liệu chủ của tài liệu số hóa cho Bộ Nội vụ (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) để tạo lập tài liệu lưu trữ dự phòng theo quy định. Giai đoạn 2034 - 2035, tiếp tục quản lý, bảo quản an toàn tài liệu, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý; rà soát, đánh giá kết quả thực hiện; thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định số 76/QĐ-TTg và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; tổng hợp, phục vụ sơ kết, tổng kết theo yêu cầu. Về nhiệm vụ và giải pháp, Thành phố yêu cầu tổ chức tuyên truyền, phổ biến Quyết định số 76/QĐ-TTg, Kế hoạch của UBND Thành phố và các quy định có liên quan thông qua Trang thông tin điện tử, hội nghị, tập huấn hoặc các hình thức phù hợp. Đồng thời, rà soát, đánh giá hiện trạng tài liệu đang bảo quản tại Lưu trữ lịch sử Thành phố; xác định tài liệu thuộc diện lưu trữ dự phòng; lựa chọn tài liệu theo hồ sơ, không lựa chọn từng tài liệu đơn lẻ; đối chiếu kết quả chỉnh lý, số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu đã thực hiện; xác định khối lượng được kế thừa và khối lượng cần tiếp tục thực hiện; thống kê, lập Danh mục tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng theo mẫu hướng dẫn của Bộ Nội vụ; gửi Bộ Nội vụ (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) xem xét, tổng hợp. Căn cứ Danh mục tài liệu lưu trữ thuộc diện lưu trữ dự phòng và kết quả rà soát khối lượng đã thực hiện, xác định cụ thể khối lượng tài liệu cần tiếp tục số hóa; bảo đảm tài liệu được chỉnh lý trước khi số hóa; tổ chức số hóa tài liệu bảo đảm chất lượng, yêu cầu kỹ thuật, nghiệp vụ theo quy định; tạo lập đầy đủ, chính xác dữ liệu chủ của tài liệu số hóa; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong quá trình số hóa, quản lý và lưu trữ dữ liệu; phối hợp với Bộ Nội vụ (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) kiểm tra chất lượng sản phẩm số hóa và dữ liệu chủ trước khi bàn giao. Chuẩn bị đầy đủ sản phẩm số hóa và dữ liệu chủ đủ điều kiện bàn giao; phối hợp với Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước kiểm tra, đối chiếu sản phẩm trước khi bàn giao; thực hiện bàn giao theo từng phông, công trình, sưu tập lưu trữ; phương thức và yêu cầu kỹ thuật bàn giao thực hiện theo hướng dẫn của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; lập, quản lý hồ sơ, biên bản bàn giao theo quy định. Rà soát, xác định nhu cầu kinh phí, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, thiết bị và các điều kiện cần thiết trên cơ sở khối lượng tài liệu thuộc diện lưu trữ dự phòng và kết quả đã thực hiện; ưu tiên sử dụng, kế thừa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị và kết quả đầu tư hiện có; lồng ghép với các chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ có liên quan, tránh đầu tư trùng lặp; việc đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ và sử dụng ngân sách thực hiện theo quy định của pháp luật. Xây dựng Hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh, cùng kỷ niệm 850 năm ngày mất Danh nhân lịch sử, văn hóa Tô Hiến Thành (1179 - 2029) Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 374/KH-UBND ngày 29/9/2026 về xây dựng Hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh, cùng kỷ niệm 850 năm ngày mất Danh nhân lịch sử, văn hóa Tô Hiến Thành (1179 - 2029). Theo Kế hoạch, việc xây dựng Hồ sơ nhằm khẳng định vị trí, công lao, tầm ảnh hưởng của Danh nhân Tô Hiến Thành trong lịch sử, văn hóa Việt Nam. Tôn vinh các giá trị tiêu biểu về tư tưởng, chuẩn mực quản trị quốc gia, tầm nhìn chiến lược trong bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước; đạo đức công vụ, trách nhiệm chính trị, sự chính trực, liêm khiết, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết; khả năng truyền cảm hứng về trách nhiệm công dân và phụng sự cộng đồng. Thông qua việc đề nghị UNESCO cùng kỷ niệm 850 năm ngày mất Danh nhân Tô Hiến Thành, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức công vụ, tinh thần phụng sự và trách nhiệm với quốc gia; phục vụ giáo dục truyền thống, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, giàu bản lĩnh văn hóa. Nâng cao nhận thức của cộng đồng trong và ngoài nước trong việc gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn liền với Danh nhân, với vương triều nhà Lý trên địa bàn các địa phương liên quan. Mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, quảng bá các giá trị văn hóa dân gian Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, năng động, hiếu khách tới bạn bè quốc tế; góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong dòng chảy văn minh nhân loại thông qua ngoại giao văn hóa. Theo tiến độ, Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành Hồ sơ khoa học chính thức song ngữ Việt - Anh theo mẫu của UNESCO. Khảo sát, thu thập, hệ thống hóa tư liệu tại Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa và các địa phương liên quan. Hoàn thành các sản phẩm: Hồ sơ khoa học chính thức; hệ thống phim tài liệu, phim khoa học; album ảnh tư liệu; kỷ yếu Hội thảo, Tọa đàm; ấn phẩm xuất bản; Website; báo cáo kết quả điền dã; thư mục tài liệu; báo cáo tổng hợp và thư ủng hộ. Hoàn thành Hồ sơ gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 15/10/2026; hoàn thiện để gửi qua kênh quốc gia trước ngày 01/12/2026. Phối hợp bổ sung, giải trình, hiệu đính và hoàn thiện Hồ sơ từ tháng 12/2026 đến tháng 3/2027 theo yêu cầu của UNESCO. Tổ chức quảng bá, vận động ủng hộ Hồ sơ trong năm 2027; triển khai các hoạt động phát huy giá trị năm 2028 và tổ chức Lễ vinh danh cùng Kỷ niệm năm 2029 khi có Nghị quyết của UNESCO. Kế hoạch được triển khai qua 5 giai đoạn. Giai đoạn 1 tập trung xin chủ trương, giao nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Thành phố thành lập Ban Chỉ đạo/Tổ công tác cấp Thành phố và Tổ biên soạn Hồ sơ, gồm đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND xã Ô Diên, các nhà khoa học, chuyên gia biên soạn, dịch thuật, truyền thông di sản và các cơ quan phối hợp. Giai đoạn 2 tập trung nghiên cứu, khảo sát và lập Hồ sơ khoa học. Thành phố sẽ khảo sát, thu thập thông tin về thực trạng di tích, địa điểm, địa danh; hiện vật, di vật; tư liệu thành văn, di văn Hán Nôm và các tư liệu liên quan đến Danh nhân tại Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa và các địa phương liên quan; xây dựng báo cáo kết quả khảo sát, thu thập tư liệu. Cùng với đó, Thành phố xây dựng Website về Danh nhân và các di sản liên quan; khảo sát, thu thập tư liệu khoa học chuyên sâu; nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích các nguồn tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp, công trình nghiên cứu và di sản liên quan; xây dựng lý lịch Hồ sơ Danh nhân; xây dựng phim, ảnh tư liệu và các ấn phẩm; tổ chức Hội thảo, Tọa đàm, lấy ý kiến chuyên gia và cộng đồng. Giai đoạn 3 là thẩm định cấp quốc gia và trình Thủ tướng Chính phủ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp thực hiện quy trình thẩm định cấp chuyên ngành, Hội đồng cấp Bộ và lấy ý kiến Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia; trên cơ sở kết quả thẩm định, hoàn thiện Hồ sơ và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chính thức đề nghị UNESCO vinh danh. Giai đoạn 4 tập trung trình UNESCO và vận động quốc tế. Hồ sơ chính thức được nộp lên UNESCO theo kênh quốc gia trước ngày 01/12/2026. Từ tháng 12/2026 đến tháng 3/2027, các cơ quan liên quan phối hợp bổ sung, giải trình, hiệu đính và hoàn thiện Hồ sơ theo yêu cầu của UNESCO. Trong năm 2027, Thành phố tổ chức các đoàn công tác quảng bá, vận động ủng hộ Hồ sơ tại nước ngoài với các hoạt động phù hợp như quảng bá, trưng bày, triển lãm và giao lưu văn hóa. Giai đoạn 5 được triển khai nhằm phát huy giá trị và tổ chức Kỷ niệm. Năm 2028, Thành phố xây dựng và triển khai chương trình hành động phát huy giá trị di sản văn hóa liên quan đến Danh nhân Tô Hiến Thành, gắn với giáo dục truyền thống, văn hóa cơ sở và phát triển du lịch. Năm 2029, trên cơ sở Nghị quyết của UNESCO và chỉ đạo của Trung ương, Thành phố tham mưu tổ chức Lễ vinh danh cùng Kỷ niệm 850 năm ngày mất tại Hà Nội, cùng Lễ dâng hương và các hoạt động văn hóa, giáo dục phù hợp. Mở mới tuyến buýt điện Hà Nội - Hưng Yên Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng đã ký ban hành Công văn số 4957/UBND-ĐT ngày 28/9/2026 về việc mở mới tuyến buýt điện Hà Nội - Hưng Yên. Theo nội dung Công văn, UBND Thành phố yêu cầu việc mở mới tuyến xe buýt điện Bến xe Gia Lâm - Bến xe Hưng Yên theo hình thức tuyến buýt liên tỉnh đã được UBND Thành phố chấp thuận chủ trương tại Văn bản số 4041/UBND-ĐT ngày 07/8/2026 của UBND Thành phố. Đồng thời, thống nhất về chủ trương đối với đề xuất, kiến nghị của Tổng công ty Vận tải Hà Nội về việc nghiên cứu, điều chỉnh phương án tuyến buýt điện liên tỉnh Bến xe Gia Lâm - Bến xe Hưng Yên từ hình thức "không trợ giá" sang hình thức "có trợ giá" nhằm nâng cao chất lượng phục vụ vận tải hành khách công cộng, tăng cường liên kết vùng Thủ đô và khuyến khích người dân chuyển đổi sang phương tiện giao thông xanh, văn minh, hiện đại. Giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, cơ quan chuyên môn của tỉnh Hưng Yên và các đơn vị liên quan hướng dẫn Tổng công ty Vận tải Hà Nội rà soát, hoàn thiện phương án tổ chức vận hành; tính toán, xác định cụ thể định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, dự toán chi phí và phương án trợ giá theo đúng quy định hiện hành; thẩm định tính khả thi, hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng cân đối nguồn ngân sách Thành phố và các quy định của pháp luật về quản lý, cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, trợ giá vận tải hành khách công cộng; thẩm định và thực hiện các thủ tục điều chỉnh, mở tuyến theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật (lưu ý rà soát mức độ trùng lặp lộ trình với các tuyến hiện có và các tuyến do tỉnh Hưng Yên đang nghiên cứu để tránh lãng phí ngân sách…). Ban hành Quy định tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, cá nhân Phó Chủ tịch UBND Thành phố Bùi Duy Cường đã ký ban hành Quyết định số 132/2026/QĐ-UBND ngày 28/9/2026 về ban hành Quy định tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Theo Quyết định, Quy định các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quá trình xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, cá nhân (công trình, nhà ở). Đối tượng áp dụng là hộ gia đình, cá nhân sử dụng công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác phòng, chống thiên tai trong quá trình xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng công trình, nhà ở. Nguyên tắc thực hiện là tuân thủ các quy định của Luật Phòng, chống thiên tai và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành; đảm bảo công khai, minh bạch, kịp thời, phù hợp; đảm bảo hài hòa lợi ích của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả ba giai đoạn trước, trong và sau khi xảy ra thiên tai; đảm bảo phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của thành phố Hà Nội và phân vùng rủi ro thiên tai theo địa bàn (nếu có); được áp dụng cho tất cả các hoạt động trong quá trình xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng công trình, nhà ở nhằm bảo đảm an toàn về người, công trình và tài sản, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, không làm gia tăng hoặc phát sinh rủi ro thiên tai. Việc bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai được Thành phố khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, các hướng dẫn, khuyến cáo của cơ quan chuyên môn về bảo đảm an toàn công trình, nhà ở trước thiên tai; đầu tư xây dựng, cải tạo, sửa chữa công trình, nhà ở bao gồm lựa chọn vị trí, phương án thiết kế, kết cấu, vật liệu và biện pháp thi công phải tính toán, xem xét các yếu tố bất lợi, ảnh hưởng, tác động của từng loại hình thiên tai, sự cố có thể xảy ra: Hạn chế bố trí, xây dựng công trình, nhà ở tại khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiên tai; nhất là các loại hình thiên tai như lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất, động đất. Dừng thi công và triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cho công trình, nhà ở khi có cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai cấp 2 trở lên; đối với khu vực thường xuyên xảy ra lũ, ngập lụt như khu vực bờ, bãi, ven sông, suối hoặc theo bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ, ngập lụt (nếu có): nền hoặc sàn tầng một công trình, nhà ở phải được tính toán để đảm bảo an toàn đối với mực nước lũ, ngập lụt cao nhất đã xảy ra tại khu vực (số liệu về mực nước lũ, ngập lụt có thể tra cứu, tham vấn tại UBND cấp xã); phương án thiết kế, kết cấu, vật liệu và biện pháp thi công phải được tính toán đảm bảo phù hợp, an toàn khi xảy ra lũ, ngập lụt dài ngày; có biện pháp đảm bảo an toàn về điện; đối với khu vực thường xuyên xảy ra bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, mưa đá, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất, động đất: phương án thiết kế, kết cấu, vật liệu và biện pháp thi công phải được tính toán đảm bảo phù hợp, an toàn trước mưa, gió, rung lắc, tác động của thiên tai và phải được kiểm tra, gia cố khi thiên tai xảy ra; có biện pháp đảm bảo an toàn đối với các bộ phận, kết cấu ở trên cao, nguy cơ mất an toàn như biển báo, cây xanh, bồn nước và các bộ phận, kết cấu xuống cấp; đối với khu vực thường xuyên xảy ra sét: bố trí hệ thống chống sét để đảm bảo an toàn theo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành và các tài liệu hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Chuẩn bị và triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn theo phương châm "4 tại chỗ" về lực lượng, vật tư, phương tiện và hậu cần tại mỗi hộ gia đình để phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả do thiên tai, sự cố gây ra. Triển khai khảo sát, đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự cung ứng dịch vụ công thuộc một số lĩnh vực của các cơ quan, đơn vị Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 373/KH-UBND ngày 29/9/2026 về triển khai khảo sát, đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự cung ứng dịch vụ công thuộc một số lĩnh vực của các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội năm 2026. Theo Kế hoạch, việc khảo sát tập trung vào 3 lĩnh vực gồm Giáo dục và Đào tạo, Y tế và Đất đai, nhằm đo lường một cách khoa học, khách quan và có hệ thống (kết hợp định lượng và định tính) mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng cung ứng dịch vụ công của các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội; qua đó phản ánh trung thực hiệu quả phục vụ, mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội trong các lĩnh vực được lựa chọn khảo sát, đo lường. Cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy và thông tin phản hồi đa chiều giúp các cơ quan quản lý nhà nước nhận diện đầy đủ các điểm mạnh, tồn tại, hạn chế trong quá trình cung ứng dịch vụ công; từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, hướng tới nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch. Góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; gắn kết kết quả đo lường sự hài lòng với công tác đánh giá, xếp loại, thi đua - khen thưởng; qua đó củng cố niềm tin của người dân, tổ chức đối với hệ thống cơ quan hành chính nhà nước của thành phố. Đối tượng khảo sát tại các Sở, cơ quan tương đương Sở là cá nhân, người đại diện tổ chức đã giao dịch thủ tục hành chính tại Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội từ ngày 01/01/2026 đến thời điểm khảo sát trong các lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo (Sở Giáo dục và Đào tạo), Y tế (Sở Y tế), Đất đai (Sở Nông nghiệp và Môi trường). Tại UBND các xã, phường, đối tượng khảo sát gồm người dân đại diện hộ gia đình từ đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi, biết đọc, biết viết; cá nhân, người đại diện tổ chức đã giao dịch TTHC tại cơ quan quản lý nhà nước thành phố Hà Nội từ ngày 01/01/2026 tới thời điểm khảo sát. Với từng lĩnh vực, đối tượng được khảo sát gồm giáo viên, học sinh cấp 3, phụ huynh học sinh; bệnh nhân nội trú, ngoại trú và người nhà bệnh nhân; người dân đã và đang thực hiện dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc khảo sát được tiến hành trên địa bàn thành phố Hà Nội, tại các cơ sở, địa điểm phù hợp với từng lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực giáo dục khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố, các điểm hỗ trợ dịch vụ hành chính công số, các trường học và hộ gia đình; lĩnh vực y tế tại Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố, các điểm hỗ trợ dịch vụ hành chính công số, bệnh viện, trung tâm y tế và hộ gia đình; lĩnh vực đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, các điểm phục vụ hành chính công xã, phường và hộ gia đình. Thời gian khảo sát được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 12/2026; thời kỳ thu thập thông tin đánh giá về sự hài lòng của người dân, đại diện tổ chức đối với việc cung ứng dịch vụ công thuộc 3 lĩnh vực trên từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2026. Nội dung mẫu phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên các nội dung, yếu tố, tiêu chí đo lường sự hài lòng của người dân, đại diện tổ chức. Dựa trên các nội dung như: Tiếp cận dịch vụ giáo dục/y tế/đất đai; cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học/y tế/đất đai; Chất lượng dịch vụ; thái độ cán bộ; tiếp nhận, xử lý phản ánh và cải tiến dịch vụ… Tổng số phiếu khảo sát năm 2026 là 14.950 phiếu, trong đó 7.475 phiếu khảo sát trên nền tảng trực tuyến, tương ứng 50%; 7.475 phiếu khảo sát bằng phiếu giấy, tương ứng 50%. Việc phân bổ cỡ mẫu được thực hiện phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, đặc thù của Thành phố. Thành phố thực hiện chọn mẫu dựa trên cơ sở dữ liệu về người dân, đại diện tổ chức đã giao dịch TTHC từ ngày 01/01/2026. Các phương pháp được sử dụng gồm chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, ngẫu nhiên phân tầng và lựa chọn đại diện phù hợp với quy mô mẫu, địa bàn và thời gian khảo sát. Đối với khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi, điều tra viên phát phiếu cho giáo viên, học sinh cấp 3 đang trải nghiệm dịch vụ công thuộc lĩnh vực giáo dục tại các trường THPT. Phát phiếu khảo sát giáo viên, phụ huynh học sinh đang trải nghiệm dịch vụ công thuộc lĩnh vực giáo dục tại các trường THCS, tiểu học, mầm non. Phát phiếu khảo sát cho bệnh nhân (ngoại trú và nội trú), người nhà bệnh nhân đang trải nghiệm dịch vụ công thuộc lĩnh vực y tế tại các cơ sở y tế; đồng thời mời người dân, đại diện tổ chức tham gia tại các chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công, các điểm hỗ trợ dịch vụ công số hoặc địa bàn dân cư. Với hình thức khảo sát trên nền tảng trực tuyến, điều tra viên liên hệ và trực tiếp mời người dân tham gia khảo sát tại các địa điểm trên hoặc tại địa bàn dân cư, hướng dẫn các thao tác truy cập "đường link" hoặc "mã QR code" để người dân tự trả lời phiếu khảo sát trên phần mềm khảo sát CCHC của Thành phố. Kết quả đo lường mức độ hài lòng được phân loại theo 4 mức: Tốt từ 90% trở lên; khá từ 70% đến dưới 90%; trung bình từ 50% đến dưới 70%; kém dưới 50%. |
