Tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa phải báo cáo phòng, chống rửa tiền từ 1/12/2026

21:09, 24/08/2026

Từ ngày 1/12/2026, tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa được bổ sung vào diện đối tượng báo cáo theo quy định về phòng, chống rửa tiền. Luật vừa được Quốc hội thông qua cũng quy định 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, trong đó có giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn không rõ mục đích kinh doanh, chia nhỏ giao dịch hoặc sử dụng công cụ cho phép ẩn danh...

Có 473/476 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 94,6% (Ảnh: Quốc hội)

Có 473/476 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 94,6% (Ảnh: Quốc hội)

Chiều 24/8, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là bổ sung các quy định liên quan đến phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tài sản mã hóa.

Cụ thể, tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa được bổ sung vào diện đối tượng báo cáo theo quy định về phòng, chống rửa tiền. Đối tượng báo cáo có trách nhiệm báo cáo giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản do phạm tội mà có.

Luật đồng thời bổ sung Điều 33a vào sau Điều 33 của Luật Phòng, chống rửa tiền, quy định 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa.

Trong đó có trường hợp thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng; nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi thiết lập quan hệ khách hàng; khách hàng truy cập nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thông qua công cụ cho phép ẩn danh tính hoặc ẩn địa chỉ giao thức Internet.

Các dấu hiệu đáng ngờ còn bao gồm việc chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết khách hàng hoặc báo cáo theo quy định; chuyển đổi tài sản mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh doanh, đầu tư hợp lý.

Căn cứ yêu cầu của công tác phòng, chống rửa tiền trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước trình Chính phủ bổ sung các dấu hiệu đáng ngờ theo các ngành, lĩnh vực ngoài những dấu hiệu đã được quy định trong Luật.

Một nội dung khác của Luật Phòng, chống rửa tiền được sửa đổi liên quan đến trách nhiệm của các đối tượng báo cáo và việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Theo đó, dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành sẽ hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, trong đó lượng hóa tối đa tiêu chí quyền kiểm soát thực tế. Chính phủ sẽ chỉ đạo chỉnh sửa khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi tại Luật Doanh nghiệp để bảo đảm thống nhất.

Đối với trách nhiệm của đối tượng báo cáo, Luật quy định nghĩa vụ tương ứng với quy mô, mức độ rủi ro của từng loại đối tượng, phù hợp với nguyên tắc quản lý dựa trên rủi ro đã được áp dụng trong Luật Phòng, chống rửa tiền hiện hành.

Luật cũng làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành trong kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền. Việc kiểm tra, giám sát đối tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước được thực hiện có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo.

Đối với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 43, giao Chính phủ quy định nội dung, nguyên tắc thu, chi tài chính; cơ chế trích lập dự phòng rủi ro; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính và việc xác định kết quả tài chính phù hợp với hoạt động của Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước được trích từ kết quả tài chính hằng năm để lập Quỹ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Quỹ dự phòng tài chính và các quỹ khác theo quy định của Chính phủ.

Kết quả tài chính của Ngân hàng Nhà nước sau khi trích lập các quỹ và bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu của các năm trước, nếu có, được nộp vào ngân sách nhà nước.

Luật cũng bổ sung tại khoản 3 Điều 59 quy định Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thanh tra, giám sát các đối tượng thuộc diện thanh tra, giám sát theo quy định của pháp luật.

Theo báo cáo giải trình, quy định này nhằm xác định rõ các tổ chức tín dụng được áp dụng tỷ lệ an toàn khác theo khoản 3 Điều 59 vẫn phải chịu sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp luật có liên quan.

Đối với Luật Các tổ chức tín dụng, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm của các bên, điều kiện, tiêu chí và nội dung hoạt động của ngân hàng thương mại khi làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm.

Các quy định này sẽ được hoàn thiện tại các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và doanh nghiệp, liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và phát hành riêng lẻ.

Việc hoàn thiện quy định nhằm bảo đảm khi các ngân hàng thương mại triển khai hoạt động này không gây nhầm lẫn cho khách hàng, tránh xung đột lợi ích và kiểm soát tốt rủi ro.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2026.