Từ bài toán ở cấp xã đến khát vọng công nghệ Việt vươn tầm quốc tế
Từ hỗ trợ cán bộ cấp xã xử lý hàng trăm văn bản mỗi ngày đến làm sạch 1,2 triệu thửa đất chỉ trong 3 tháng, công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) đang từng bước chứng minh giá trị trong giải quyết những bài toán thực tiễn của các doanh nghiệp Việt.
![]()
Công nghệ AI giải bài toán quá tải công việc từ cấp cơ sở - Ảnh: Chinhphu.vn/CQ
Công nghệ AI giải bài toán quá tải công việc từ cấp xã
Một ngày làm việc tại UBND xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, có thể bắt đầu với hàng trăm văn bản, công văn, chỉ đạo cần tiếp nhận, phân loại và xử lý. Sau sáp nhập 6 xã cũ, địa phương hiện có khoảng 43.000 dân, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức chỉ với 62 người, phải đảm đương khối lượng công việc ngày càng lớn.
Theo ông Hoàng Hữu Chinh, Phó Chánh Văn phòng UBND xã Hoằng Hóa, trung bình mỗi ngày, xã tiếp nhận khoảng 100 văn bản và phát hành khoảng 40 văn bản, chưa kể các thủ tục hành chính như giấy khai sinh, giấy khai tử, chứng thực...
"Trước đây, chúng tôi phải theo dõi, nhập tay, nhập excel rất thủ công, thậm chí không tránh khỏi sai sót", ông Hoàng Hữu Chinh chia sẻ.
Áp lực công việc khiến cán bộ địa phương chủ động tìm kiếm các công cụ hỗ trợ. Ban đầu, nhiều người sử dụng các phần mềm AI miễn phí để tổng hợp thông tin, soạn thảo báo cáo, rà soát lỗi chính tả, thể thức văn bản. Tuy nhiên, những công cụ phổ thông chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng thường xuyên, nhất là giới hạn dung lượng và khả năng xử lý dữ liệu.
Từ nhu cầu thực tế, UBND xã đã phối hợp với VNPT xây dựng phần mềm riêng, tích hợp AI phục vụ quản lý, điều hành và theo dõi nhiệm vụ. Ông Lê Bỉnh Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Hoằng Hóa cho biết, hai bên đã nhiều lần trao đổi, thử nghiệm, điều chỉnh giải pháp theo phản hồi của cán bộ trực tiếp sử dụng. Đến nay, phần mềm cơ bản hoàn thiện, dự kiến triển khai chính thức trong tháng 11 này.
Điểm đáng chú ý là công nghệ AI không chỉ hỗ trợ đọc, tổng hợp văn bản mà còn có thể phân tích nội dung, tách các nhiệm vụ, xác định đơn vị và cá nhân phụ trách, đồng thời theo dõi tiến độ thực hiện.
Trước đây, một văn bản có nhiều nhiệm vụ thường được chuyển đến một phòng chuyên môn, sau đó cán bộ phải tự phối hợp với các bộ phận khác. Nay, AI có thể hỗ trợ phân tích, chia nhiệm vụ theo từng đầu mối như Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Văn hóa, Văn phòng..., sau đó tổng hợp kết quả để báo cáo lãnh đạo.
![]()
Ông Lê Bỉnh Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Chinhphu.vn/CQ
Theo ông Nam, hệ thống giúp lãnh đạo theo dõi rõ người, rõ việc, biết văn bản đang được xử lý đến đâu, còn bao lâu đến hạn và trách nhiệm thuộc về ai. Đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả công việc, phục vụ chấm điểm KPI hằng tháng, hằng quý.
Hiệu quả được cảm nhận rõ nhất từ những cán bộ trực tiếp xử lý công việc. Anh Hoàng Mạnh Cường, chuyên viên Phòng Văn hóa, hiện phải theo dõi khoảng 600 văn bản. Trước đây, anh phải mở từng văn bản để kiểm tra thời hạn, phân loại công việc cần ưu tiên. Chiều thứ Sáu hằng tuần, anh thường phải ở lại cơ quan rà soát lại các đầu việc, xác định nhiệm vụ nào cần ưu tiên xử lý, ngay cả trong ngày nghỉ.
"Khi có công nghệ AI hỗ trợ, phần mềm phân loại rất rõ ràng. Nếu tôi có 5 việc cần phải làm trong ngày thì 5 việc sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên trước, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức để tập trung vào những công việc khác", anh Cường chia sẻ.
Với ông Lê Bỉnh Nam, điều địa phương mong muốn nhất là việc tổng hợp báo cáo phải kịp thời, chính xác. Ông cũng thẳng thắn nhìn nhận chưa thể hoàn toàn tin tưởng AI mà vẫn phải kiểm tra lại kết quả. Tuy nhiên, qua nhiều lần đối chiếu, ông nhận thấy công nghệ cơ bản cho kết quả nhanh và chính xác.
"Chúng tôi rất cần trợ lý AI chính thống và được khuyến cáo để dùng", ông Nam nhấn mạnh.
Từ câu chuyện Hoằng Hóa có thể thấy, công nghệ AI không thay thế cán bộ trong những quyết định chuyên môn, mà đang hỗ trợ giảm thời gian cho các thao tác lặp lại, xử lý thông tin và nhắc việc. Quan trọng hơn, giải pháp được hình thành từ chính nhu cầu của cơ sở, nơi những áp lực công việc hằng ngày đòi hỏi công nghệ phải thực sự hữu ích.
![]()
Đến thời điểm 30/6/2026, Thanh Hóa đã làm sạch được 1,2 triệu thửa đất chỉ trong 3 tháng, gấp đôi chỉ tiêu tỉnh giao- Ảnh: Chinhphu.vn/CQ
Đột phá làm sạch 1,2 triệu thửa đất trong 3 tháng
Nếu tại Hoằng Hóa, AI giúp giải quyết áp lực công việc của từng cán bộ thì ở quy mô toàn tỉnh, công nghệ tiếp tục chứng minh vai trò trong một nhiệm vụ có khối lượng dữ liệu khổng lồ: làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai tại Thanh Hóa.
Ông Hàn Việt Anh, Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Thanh Hóa cho biết, trong quá trình triển khai nhiệm vụ, địa phương từng đối mặt với áp lực rất lớn về tiến độ. Riêng địa bàn xã Triệu Sơn, nơi ông từng công tác, có khoảng 237.000 thửa đất cần làm sạch, chiếm gần 1/4 khối lượng dữ liệu của toàn tỉnh.
Sau 3 tháng triển khai ban đầu theo, kết quả làm sạch tại địa bàn này mới đạt khoảng 5.000 thửa. Toàn tỉnh khi đó cũng chỉ có khoảng 55.000 thửa đất được làm sạch, sống dữ liệu, đứng trước nguy cơ không hoàn thành nhiệm vụ.
Trước tình hình này, Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu các cơ quan chuyên môn phối hợp với VNPT tìm giải pháp. Bài toán đặt ra trong 3 tháng, toàn tỉnh phải nâng số lượng dữ liệu được làm sạch từ hơn 55.000 lên ít nhất 600.000 thửa, gấp khoảng 10 lần.
"Khi nhận nhiệm vụ này do tỉnh giao, các đơn vị ở xã và các địa phương, các ngành liên quan rất trăn trở vì khối lượng công việc rất nhiều. Mọi người đã xác định làm ngày làm đêm, nếu không sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ", ông Hàn Việt Anh cho biết.
Kết quả, đến thời điểm 30/06/2026 hoàn thành Kế hoạch 2959/KH-BNNMT-BCA ngày 29/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an về việc tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đa, Thanh Hóa đã làm sạch được 1,2 triệu thửa đất, gấp đôi chỉ tiêu tỉnh giao.
Theo ông Việt Anh, đây là khối lượng công việc rất lớn, không thể hoàn thành nếu chỉ dựa vào phương thức nhập liệu, rà soát thủ công. Để một thửa đất đáp ứng yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, dữ liệu phải trải qua nhiều khâu: thu thập thông tin tại cấp xã, kiểm tra tại các chi nhánh, đối khớp với dữ liệu của Công an tỉnh, chuẩn hóa rồi cập nhật lên các hệ thống chuyên ngành.
VNPT đã phối hợp xây dựng các phần mềm theo dõi tiến độ, phân loại dữ liệu, đánh giá chất lượng công việc, lọc dữ liệu trùng lặp, hỗ trợ ký sổ địa chính, ký tệp quét và phát hiện lỗi dữ liệu. Hệ thống cho phép lãnh đạo theo dõi kết quả theo từng địa phương, nhóm đất, thửa đất mà không phải chờ báo cáo thủ công, qua đó kịp thời phát hiện những điểm nghẽn để xử lý.
"Chỉ trong 3 tháng, khối lượng hơn 1 triệu thửa đất được làm sạch, đúng, đủ, sống là rất lớn. Nếu làm thủ công, nhập từng thửa đất thì sẽ rất vất vả cho cán bộ thực hiện", ông Việt Anh khẳng định.
Kết quả này còn được nối dài bằng việc Thanh Hóa trở thành địa phương đầu tiên trên cả nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên VNeID. Đến nay, tỉnh đã tích hợp khoảng 670.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên nền tảng này, đồng thời tái cấu trúc 22 thủ tục hành chính theo hướng toàn trình.
Đằng sau những con số về dữ liệu là lợi ích trực tiếp đối với người dân. Khi dữ liệu đất đai được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, việc tra cứu, xác thực thông tin, thực hiện thủ tục hành chính có thêm điều kiện để nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch hơn.
Từ một phần mềm hỗ trợ cán bộ cấp xã đến hệ thống xử lý hàng triệu thửa đất, những kết quả tại Thanh Hóa cho thấy giá trị của công nghệ không nằm ở việc có bao nhiêu tính năng hiện đại, mà ở khả năng giải quyết những bài toán cụ thể, tạo ra hiệu quả có thể đo đếm được.
![]()
Ông Hàn Việt Anh, Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Thanh Hóa - Ảnh: Chinhphu.vn/CQ
Đưa công nghệ từ bài toán thực tế ra thị trường
Từ những kết quả có thể đo đếm tại Thanh Hóa, một câu hỏi lớn hơn được đặt ra: Làm thế nào để giải pháp hình thành từ một nhu cầu cụ thể có thể tiếp tục phục vụ nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực, thay vì dừng lại ở một nhiệm vụ riêng lẻ? Câu trả lời không chỉ nằm ở khả năng nghiên cứu, phát triển công nghệ mà còn ở năng lực tích hợp, vận hành và mở rộng ứng dụng trong thực tế.
Đây cũng là hướng chuyển trong chiến lược phát triển của VNPT: từ khai thác hạ tầng viễn thông sang trực tiếp nghiên cứu, phát triển và tích hợp các công nghệ, nền tảng số. Bên cạnh Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, VNPT tham gia triển khai các hệ thống, cơ sở dữ liệu trong những lĩnh vực như đất đai, cán bộ, công chức, viên chức và an sinh xã hội; đồng thời phát triển các nền tảng số phục vụ giáo dục, y tế và nông nghiệp.
Ở quy mô quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai do VNPT tham gia triển khai đã kết nối 33/34 tỉnh, thành phố, với hơn 38 triệu thửa đất, trong đó trên 25,6 triệu thửa đạt tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống". Với Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, hơn 2,2 triệu hồ sơ đã được đồng bộ và đối soát, đạt tỷ lệ trên 99%. Đằng sau những con số này là yêu cầu đối với công nghệ khi phải vận hành trên nhiều hệ thống, địa bàn và đáp ứng các quy trình nghiệp vụ khác nhau.
![]()
Công nghệ phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, tính ổn định và sự phù hợp với công việc của người dùng - Ảnh: Chinhphu.vn/CQ
Thực tế cho thấy, một giải pháp hoạt động tốt ở một đơn vị chưa đồng nghĩa với khả năng triển khai rộng rãi. Công nghệ còn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, tính ổn định và sự phù hợp với công việc của người dùng. Những yêu cầu này chỉ được kiểm chứng đầy đủ trong quá trình vận hành, tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh.
Từ thực tiễn đó, VNPT xác định bước tiếp theo cần dịch chuyển rõ hơn từ thực hiện nhiệm vụ sang hình thành sản phẩm, rồi đưa sản phẩm ra thị trường. Năng lực công nghệ không chỉ được đánh giá bằng việc hoàn thành một dự án hay phát triển được một tính năng, mà còn bằng khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế, được khách hàng lựa chọn và triển khai ở quy mô lớn. Thị trường, vì thế, trở thành phép thử đối với chất lượng sản phẩm và năng lực triển khai của doanh nghiệp.
Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống và hoạt động kinh tế. Từ một công cụ hỗ trợ cán bộ cấp xã đến những hệ thống dữ liệu phục vụ hàng triệu hồ sơ, thửa đất, giá trị của công nghệ cuối cùng vẫn được xác định bằng hiệu quả đối với người sử dụng và khả năng duy trì hiệu quả ấy khi mở rộng.
Khi sản phẩm và năng lực triển khai được kiểm chứng qua những bài toán thực tế trong nước, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam sẽ có thêm cơ sở để từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Hành trình ấy không bắt đầu bằng những tuyên bố lớn, mà từ những giải pháp giải quyết được công việc cụ thể, có khả năng nhân rộng và đáp ứng yêu cầu của những thị trường mới.
