Bệ phóng từ dữ liệu và văn hóa số: Động lực mới cho kinh tế số xanh và phát triển bền vững

09:00, 20/07/2026

Tháng 7/2026 đánh dấu bước ngoặt lớn trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia khi Chính phủ liên tiếp ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030 và Nghị định về hạ tầng văn hóa số.

Tháng 7/2026 đánh dấu bước ngoặt lớn trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia khi Chính phủ liên tiếp ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030 và Nghị định về hạ tầng văn hóa số. Đây không chỉ là những quyết sách công nghệ thuần túy, mà còn là lời giải cho bài toán tối ưu hóa nguồn lực, giảm phát thải và thúc đẩy nền kinh tế số xanh - xu hướng tất yếu của một Việt Nam phát triển bền vững.

Chiến lược dữ liệu quốc gia: Biến "dầu mỏ số" thành tài nguyên xanh

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược đặt mục tiêu cốt lõi là hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại và an toàn, biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất đặc biệt để phát triển kinh tế - xã hội.

Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, việc xây dựng kho dữ liệu dùng chung là giải pháp cắt giảm lãng phí tài nguyên vật lý triệt để nhất. Hệ thống số hóa giúp tối ưu năng lực vận hành, giảm bớt việc di chuyển thủ công và các thủ tục giấy tờ cồng kềnh gây tổn hại đến môi trường tự nhiên.

Mục tiêu chiến lược: Việt Nam hướng tới nguyên tắc "dữ liệu thay giấy tờ", cắt giảm tối đa thủ tục hành chính cơ học. Điều này đồng nghĩa với việc tiết kiệm hàng ngàn tấn giấy, giảm chi phí in ấn, vận chuyển và hạ thấp đáng kể dấu chân carbon của nền quản trị công.

7 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2030:

Hoàn thiện thể chế: Hoàn thành 100% việc xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi (Luật, Nghị định, Thông tư); bảo đảm hài hòa giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư. 100% bộ, ngành, địa phương ban hành Chiến lược dữ liệu, Khung kiến trúc và Khung quản trị dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh.

Số hóa toàn diện: 100% cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành được chuẩn hóa theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia thông qua Nền tảng NDOP. 100% thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến vận hành dựa trên dữ liệu tổng hợp để thực hiện triệt để nguyên tắc không dùng giấy tờ.

  • Hạ tầng điện toán hiện đại: Vận hành chính thức 03 Trung tâm dữ liệu quốc gia; thiết lập hạ tầng tính toán hiệu năng cao và trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện các mô hình AI. Đảm bảo khôi phục các dịch vụ thiết yếu trong không quá 04 giờ sau sự cố.

  • Phát triển dữ liệu phục vụ AI: 100% tập dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu mở quốc gia được chuẩn hóa, dễ tiếp cận phục vụ huấn luyện AI; hỗ trợ phát triển thành công tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và mô hình AI "Make in Vietnam".

  • Kinh tế dữ liệu minh bạch: Đưa vào vận hành tối thiểu 05 sàn dữ liệu; phát triển ít nhất 1.000 doanh nghiệp công nghệ dữ liệu, phân tích dữ liệu; 30 tổ chức trung gian dữ liệu tham gia điều phối thị trường.

  • Nguồn nhân lực chất lượng cao: Đào tạo 50.000 lượt cán bộ về quản trị dữ liệu; 300.000 lượt người lao động trong doanh nghiệp ứng dụng AI; hình thành hơn 50 cơ sở đại học đào tạo khoa học dữ liệu và an ninh dữ liệu.

  • An ninh và chủ quyền dữ liệu: Hệ thống giám sát an ninh dữ liệu quốc gia hoạt động 24/7; trên 90% hệ thống thông tin chứa dữ liệu cốt lõi đáp ứng tiêu chuẩn bảo vệ, bảo đảm vững chắc an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu quốc gia.

Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam đặt mục tiêu lọt vào nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và AI. Khi đó, 100% hoạt động điều hành của cơ quan Nhà nước và 90% chính sách quan trọng sẽ được xây dựng dựa trên phân tích dữ liệu, giúp dự báo chính xác các biến động về môi trường, kinh tế và xã hội, hướng đến sự phát triển bền vững trường tồn.

Hạ tầng văn hóa số: Phát triển công nghiệp sáng tạo không phát thải

Song song với chiến lược dữ liệu, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số. Đây được xem là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ, thúc đẩy các sản phẩm, dịch vụ văn hóa chuyển dịch lên môi trường mạng, mở ra không gian phát triển mới cho ngành du lịch và công nghiệp giải trí theo hướng bền vững, ít phát thải tài nguyên cơ học.

Theo Nghị định, việc phát triển hạ tầng văn hóa số phải bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, dùng chung rộng khắp, tối ưu hóa nguồn lực và tránh đầu tư phân tán, trùng lặp. Nhà nước đặc biệt khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng văn hóa số theo phương thức đối tác công tư (PPP), thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đóng góp giải pháp số hóa di sản.

Số hóa di sản - Trụ cột của du lịch xanh bền vững:

  • 90% di sản văn hóa, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt được số hoá, lưu trữ đầy đủ dữ liệu và hình thành thư viện số, di sản số trên môi trường mạng để người dân và du khách dễ dàng tiếp cận.

  • 100% danh lam thắng cảnh, địa điểm du lịch trong nước hoàn thành số hóa, chia sẻ thông tin rộng rãi, kết hợp xây dựng các nền tảng số du lịch đồng bộ nhằm quảng bá, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, bền vững.

  • Hoàn thiện 100% cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, sổ lao động điện tử tích hợp dữ liệu học tập suốt đời cho người lao động.

  • Số hóa kho học liệu giáo trình ngành giáo dục hỗ trợ 100% người học trực tuyến, đáp ứng tài liệu cho toàn bộ chương trình phổ thông và tối thiểu 40% số ngành đại học.

  • 95% dữ liệu về y tế được xây dựng, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, phấn đấu 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử.

Ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) và bản sao số (Digital Twin) không chỉ nâng cao trải nghiệm của du khách mà còn là giải pháp "bảo tồn xanh". Việc giảm tải áp lực trực tiếp từ khách du lịch lên các di sản vật thể giúp bảo vệ cảnh quan tự nhiên, giảm thiểu rác thải tại các khu bảo tồn, đồng thời quảng bá văn hóa Việt Nam ra toàn cầu không giới hạn địa lý.

Các công nghệ số ưu tiên thúc đẩy chuyển dịch xanh

Nghị định 277/2026/NĐ-CP đã chỉ rõ danh mục các công nghệ thế hệ mới được ưu tiên đầu tư phát triển trong lĩnh vực văn hóa, tạo nền tảng cho một nền kinh tế tri thức ít phát thải, nâng cao giá trị gia tăng:

  • Hạ tầng và lưu trữ đám mây thông minh: Điện toán đám mây (Cloud Computing), Điện toán biên (Edge Computing), Dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT).

  • Trải nghiệm số và mô phỏng sinh thái: Thực tế ảo (VR), Thực tế tăng cường (AR), Thực tế mở rộng (XR), Trải nghiệm nhập vai (IR), Thực tế hỗn hợp (MR).

  • Mô hình hóa và Quản lý địa lý: Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), Trắc lượng ảnh (Photogrammetry), Hệ thống thông tin địa lý (GIS), Mô hình hóa thông tin công trình (BIM/HBIM).

  • Bảo mật và Giao dịch tài sản số: Chuỗi khối (Blockchain) nhằm xây dựng nền tảng quản trị tài sản số, sàn dữ liệu văn hóa và sàn giao dịch bản quyền số, phục vụ truy xuất nguồn gốc và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trực tuyến.

Để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số chiếm lĩnh thị trường, Chính phủ áp dụng chính sách ưu đãi vượt trội: Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng miễn phí dịch vụ hạ tầng số trong thời gian không quá 6 tháng để phục vụ hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm; đồng thời kết nối doanh nghiệp với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật để hình thành hệ sinh thái cùng sáng tạo, cùng khai thác giá trị bản sắc Việt Nam.

Liên thông hạ tầng để phát triển bền vững

Sự giao thoa giữa Chiến lược dữ liệu quốc gia và Hạ tầng văn hóa số tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh cho mô hình phát triển mới tại Việt Nam. Đáng chú ý, hạ tầng dữ liệu quốc gia sẽ được kết nối đồng bộ với các hạ tầng thiết yếu như truyền dẫn, năng lượng, số và an ninh mạng. Điều này đảm bảo các trung tâm dữ liệu lớn của Việt Nam sẽ được vận hành một cách thông minh, tiết kiệm điện năng và tối ưu hóa hệ thống làm mát - giải bài toán tiêu thụ năng lượng của ngành công nghệ thông tin.

Việc chủ động làm chủ công nghệ, xây dựng thị trường dữ liệu minh bạch và số hóa các giá trị văn hóa chính là chìa khóa để Việt Nam vừa bứt phá về kinh tế số, vừa bảo vệ được tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các hoạt động vật lý truyền thống, đồng thời gìn giữ trọn vẹn bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên số 2026 - 2030.