Khi dữ liệu trở thành “tư liệu sản xuất” mới

08:06, 02/09/2026

Chiến lược Dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 mở ra yêu cầu mới: không chỉ xây dựng hạ tầng và kết nối dữ liệu, Việt Nam cần biến dữ liệu thành nguồn lực tạo giá trị cho nền kinh tế. Theo Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng, bên cạnh dữ liệu hành chính và dữ liệu kinh tế - xã hội, cần quan tâm hơn đến việc tích tụ, bảo vệ và phát huy nguồn lực tri thức, chất xám chuyên gia.

Quyết định 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt dữ liệu vào vị trí ngày càng quan trọng trong quản trị và phát triển kinh tế - xã hội. Không chỉ xây dựng hạ tầng và kết nối dữ liệu, yêu cầu đặt ra là phải khai thác dữ liệu như một nguồn lực tạo giá trị, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng, nguyên Giám đốc R&D - Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM, bên cạnh dữ liệu hành chính, dữ liệu kinh tế - xã hội, cần quan tâm hơn đến một nguồn lực đặc biệt: dữ liệu tri thức được tích lũy từ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học. Việc số hóa, kết nối và khai thác nguồn lực này có thể mở thêm một hướng tiếp cận để phát huy giá trị của tri thức trong nền kinh tế số.

Tạp chí Tin học và Đời sống đã có cuộc trao đổi với Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng về vấn đề này.

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng chia sẻ góc nhìn về vai trò của dữ liệu trong tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Dữ liệu có thể trở thành động lực tăng trưởng mới

PV: Thưa ông, Quyết định 1308/QĐ-TTg về Chiến lược Dữ liệu Quốc gia được xem là "chìa khóa vàng" mở ra kỷ nguyên phát triển mới. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, ông đánh giá như thế nào về tầm vóc, tính thời điểm và sức bật mà Chiến lược này có thể tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam?

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng: Quyết định 1308/QĐ-TTg không đơn thuần là một văn bản quy phạm pháp luật hay một kế hoạch hành động kỹ thuật thuần túy của ngành công nghệ thông tin. Dưới góc nhìn kinh tế vĩ mô và thể chế phát triển, đây chính là bản "Tuyên ngôn đổi mới lần thứ hai" của Việt Nam - cuộc đổi mới chuyển từ khai thác tài nguyên hữu hạn (đất đai, khoáng sản, lao động giá rẻ) sang khai thác tài nguyên vô hạn và tái tạo liên tục: Dữ liệu.

Về tính thời điểm, Quyết định 1308 xuất hiện đúng vào "điểm rơi lịch sử". Việt Nam đang đứng trước khúc quanh sinh tử của bẫy thu nhập trung bình. Các động lực tăng trưởng truyền thống đã chạm trần hiệu suất. Nếu không tìm ra một "tư liệu sản xuất mới" có khả năng tạo ra giá trị gia tăng gia tốc, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu nghiêm trọng. Quyết định 1308 ra đời chính là lời giải mang tính thời đại, đánh dấu sự chuyển dịch tư duy từ "quản lý hành chính bằng giấy tờ, định tính" sang "quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu, định lượng và thời gian thực".

Sức bật của Chiến lược này không nằm ở những con số hạ tầng khô khan, mà nằm ở "Phản ứng dây chuyền thể chế" mà nó kích hoạt. Dữ liệu khi được khai thông sẽ đóng vai trò như dòng máu chạy qua toàn bộ cơ thể kinh tế.

Đối với Chính phủ, dữ liệu chất lượng cao, được kết nối và cập nhật thường xuyên sẽ hỗ trợ chuyển từ mô hình quản lý chủ yếu dựa trên phản ứng sang quản trị chủ động, dự báo và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Điều này có thể góp phần giảm chi phí thông tin và rủi ro trong quá trình hoạch định chính sách.

Đối với doanh nghiệp, dữ liệu là "mỏ dầu mới". Doanh nghiệp nào sở hữu và quản trị tốt dữ liệu sẽ tối ưu hóa được chuỗi cung ứng, hạ thấp chi phí vận hành, thấu hiểu khách hàng và tạo ra những mô hình kinh doanh đột phá chưa từng có trong lịch sử.

Đối với xã hội, việc kết nối và khai thác dữ liệu đúng cách có thể giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển.

Nói một cách đanh thép, Quyết định 1308 đã chính thức xác lập dữ liệu là tư liệu sản xuất cốt lõi của chiến lược phát triển đất nước. Không có dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống và được kết nối, mọi khát vọng bứt phá trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 sẽ chỉ là những khẩu hiệu xa rời thực tế!

Điểm nghẽn không chỉ nằm ở công nghệ

PV: Nhìn từ thực tiễn đồng hành cùng các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong nhiều năm, theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong việc hiện thực hóa Chiến lược Dữ liệu quốc gia? Vì sao hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nhanh nhưng dòng chảy dữ liệu vẫn có nguy cơ bị đứt gãy?

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng: Thực tiễn đồng hành hơn 20 năm qua cùng các tập đoàn, hội doanh nghiệp và cơ quan quản lý đã cho chúng tôi một góc nhìn thấu thị: điểm nghẽn của hạ tầng dữ liệu hiện nay không chỉ nằm ở công nghệ hay phần cứng, mà còn nằm ở "tư duy cát cứ" và "rào cản thể chế".

Chúng ta đang chứng kiến một nghịch lý xót xa: Hạ tầng công nghệ được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, các trung tâm dữ liệu hoành tráng mọc lên, nhưng dòng chảy dữ liệu vẫn rơi vào tình trạng "xơ vữa động mạch" nặng nề.

Theo tôi, “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn” xuất phát từ ba lực cản đáng chú ý.

Thứ nhất là tư duy cát cứ và thiếu động lực chia sẻ dữ liệu. Ở một số nơi vẫn tồn tại tâm lý coi dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của mình như một nguồn lực cần được kiểm soát chặt chẽ, trong khi chưa nhìn nhận đầy đủ giá trị của việc chia sẻ dữ liệu có kiểm soát. Điều này có thể tạo ra những “ốc đảo dữ liệu”, khiến việc tích hợp, kết nối giữa các hệ thống gặp khó khăn. Dữ liệu không chảy thì dữ liệu là "dữ liệu chết", không tạo ra bất kỳ giá trị gia tăng nào cho nền kinh tế, ngược lại còn gây lãng phí ngân sách khổng lồ do đầu tư trùng lắp.

Thứ hai là tâm lý "sợ sai" và trách nhiệm khi chia sẻ dữ liệu. Chúng ta thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác dữ liệu, nhưng hệ thống thể chế bảo vệ người làm dữ liệu còn yếu kém. Cán bộ quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp lo sợ rủi ro về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và trách nhiệm pháp lý khi chia sẻ dữ liệu. Trong môi trường mà "làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai", tâm lý co cụm, khóa chặt dữ liệu lại trở thành lựa chọn an toàn nhất cho cá nhân, nhưng lại là lực cản cho sự phát triển chung của quốc gia.

Thứ ba là sự lệch pha giữa "dữ liệu tĩnh" và "kinh tế động". Dữ liệu hiện nay chủ yếu là dữ liệu hành chính tĩnh, thiếu tính cập nhật theo thời gian thực (real-time). Khi dữ liệu đưa vào phân tích đã bị trễ ca, bị biến dạng hoặc thiếu độ tin cậy, các mô hình dự báo kinh tế vĩ mô hay định hướng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng "dùng bản đồ cũ để đi vào con đường mới".

Nói cách khác, muốn dòng chảy dữ liệu thông suốt theo tinh thần Quyết định 1308, chúng ta không chỉ cần giải quyết bài toán công nghệ mà còn phải đổi mới tư duy quản trị và hoàn thiện thể chế. Chia sẻ dữ liệu hợp pháp cần được nhìn nhận như một cách giải phóng và phát huy nguồn lực, thay vì chỉ là một nghĩa vụ hành chính.

Chiến lược Dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ quản trị, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ảnh minh hoạ được tạo bởi AI

Từ quản lý dữ liệu sang tạo giá trị từ dữ liệu

PV: Bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của kinh tế số đặt ra yêu cầu phải biến dữ liệu thành nguồn lực kinh tế. Theo ông, Việt Nam cần có những đột phá gì về mặt chính sách để không chỉ "quản lý" dữ liệu mà thực sự "thương mại hóa" và "sản xuất" ra giá trị từ dữ liệu?

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng: Muốn biến dữ liệu từ "chi phí vận hành" thành "tài sản sinh lời", chúng ta phải dũng cảm thay đổi hoàn toàn triết lý quản trị: Từ triết lý "quản lý để thắt chặt" sang triết lý "quản trị để giải phóng và phát triển". Dữ liệu nếu chỉ nằm trong các máy chủ để lưu trữ và truy xuất thủ tục hành chính thì nó chỉ là tư liệu nằm chết trong kho. Dữ liệu chỉ thực sự trở thành tài sản khi nó được đưa vào thị trường, được định giá, mua bán, trao đổi và chế biến thành các sản phẩm tri thức có giá trị gia tăng cao.

Theo tôi, để thực hiện bước nhảy vọt này có ba hướng đột phá cần được quan tâm.

Thứ nhất, đột phá về định danh và sở hữu tài sản dữ liệu. Việt Nam đã từng bước hình thành khung khổ pháp lý về dữ liệu, nhưng vẫn cần tiếp tục làm rõ các vấn đề liên quan đến quyền khai thác, sử dụng, chia sẻ và phân bổ giá trị phát sinh từ những loại dữ liệu khác nhau. Về dài hạn, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để xác định và định giá những loại dữ liệu đáp ứng đủ điều kiện, qua đó giúp doanh nghiệp và tổ chức nhìn nhận dữ liệu như một nguồn lực kinh tế thực sự.

Thứ hai là nghiên cứu hình thành các cơ chế thị trường cho dữ liệu. Không thể thương mại hóa dữ liệu nếu không có thị trường công khai. Chúng ta cần xây dựng thể chế cho phép thành lập các sàn giao dịch dữ liệu - nơi các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và cơ quan nhà nước có thể mua bán, trao đổi các tập dữ liệu đã được làm sạch, vô danh hóa và chuẩn hóa. Cùng với đó, hình thành ngành công nghiệp "chế biến dữ liệu" - nơi các thuật toán AI và chuyên gia phân tích đóng vai trò như các nhà máy tinh chế dữ liệu thô thành "nhiên liệu cao cấp" cho việc ra quyết định.

Thứ ba, đột phá về cơ chế "sandbox" (không gian thử nghiệm thể chế) cho dữ liệu. Kinh tế số di chuyển với tốc độ ánh sáng, trong khi luật pháp truyền thống luôn có độ trễ. Muốn thương mại hóa dữ liệu thành công, Chính phủ phải mạnh dạn trao cơ chế sandbox cho các khu kinh tế trọng điểm, các trung tâm đổi mới sáng tạo và các tập đoàn công nghệ. Cho phép thử nghiệm các mô hình kinh doanh dữ liệu mới, xuyên biên giới trong một phạm vi kiểm soát an toàn. Nếu cứ dùng tư duy "không quản được thì cấm", chúng ta sẽ tự tay đóng sập cánh cửa bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức của chính mình.

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, bên cạnh dữ liệu hành chính và dữ liệu kinh tế - xã hội, cần quan tâm hơn đến việc số hóa, tích tụ và phát huy nguồn lực tri thức của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học.

Không để “dữ liệu tri thức” bị bỏ quên

PV: Quyết định 1308/QĐ-TTg tập trung rất mạnh vào hạ tầng dữ liệu số và dữ liệu hành chính công. Tuy nhiên, dữ liệu tri thức và chất xám chuyên gia cũng là một nguồn lực có giá trị nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Theo ông, làm thế nào để chiến lược dữ liệu có thể góp phần định giá, tích tụ và bảo vệ nguồn lực tri thức này?

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng: Đây là một vấn đề rất đáng được quan tâm khi nói về dữ liệu và nền kinh tế tri thức. Bên cạnh dữ liệu hành chính, dữ liệu dân cư hay dữ liệu kinh tế - xã hội, chúng ta còn có một nguồn dữ liệu đặc biệt: tri thức được tích lũy từ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và những người có nhiều năm nghiên cứu, tư vấn, phản biện chính sách.

Hãy nhìn thẳng vào thực tế, để có được một câu trả lời phỏng vấn vài phút trên báo đài, một bài tham luận, phản biện nặng ký trong hội thảo, hay một nhận định vĩ mô chuẩn xác định hướng cho nhiều năm tiếp theo, phía sau đó có thể là hàng chực năm học tập, nghiên cứu, trải nghiệm và tích luỹ tri thức. Vì vậy, nếu nhìn dưới góc độ kinh tế tri thức, đây cũng là một nguồn lực cần được ghi nhận, lưu giữ, kết nối và khai thác hiệu quả hơn.

Trong quá trình phát triển nền kinh tế số, chúng ta đã có nhiều bước tiến trong xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng số và kết nối thông tin. Bước tiếp theo, theo tôi, cần mở rộng cách tiếp cận để quan tâm hơn đến dữ liệu tri thức và sản phẩm trí tuệ của con người. Khi được số hóa, hệ thống hóa và kết nối phù hợp, những tri thức này có thể trở thành nguồn tham khảo quan trọng cho nghiên cứu, hoạch định chính sách, hoạt động sản xuất - kinh doanh và đổi mới sáng tạo.

Để thực hiện điều đó, tôi cho rằng có thể tập trung vào ba hướng.

Thứ nhất, từng bước định danh và chuẩn hóa dữ liệu tri thức. Có thể nghiên cứu bổ sung, làm rõ khái niệm về dữ liệu tri thức trong các văn bản hướng dẫn liên quan đến Chiến lược Dữ liệu quốc gia. Các ý kiến góp ý, phản biện chính sách, công trình nghiên cứu, bài giảng, bài tham luận, tư vấn chiến lược hay các sản phẩm trí tuệ khác của chuyên gia có thể được xem xét như những nguồn dữ liệu đầu vào có giá trị, góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình ra quyết định. Điều quan trọng là cần có phương thức ghi nhận và đánh giá phù hợp đối với giá trị của từng loại sản phẩm tri thức, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tạo ra sản phẩm đó.

Thứ hai, xây dựng khung pháp lý định giá và bảo hộ bản quyền dữ liệu tri thức. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu trên cơ sở pháp luật về sở hữu trí tuệ, khoa học - công nghệ và các quy định liên quan. Với những hoạt động nghiên cứu, tư vấn, phản biện được đặt hàng hoặc sử dụng cho các nhiệm vụ cụ thể, cần có cơ chế xác định rõ sản phẩm đầu ra, phạm vi sử dụng và mức thù lao tương xứng với chất lượng, công sức và trách nhiệm chuyên môn. Khi cơ chế này minh bạch và thuận lợi, chuyên gia sẽ có thêm động lực đầu tư thời gian, công sức cho nghiên cứu, đồng thời các cơ quan, doanh nghiệp cũng có cơ sở rõ ràng hơn khi tiếp nhận và khai thác nguồn lực tri thức.

Thứ ba, số hoá và tích tụ tri thức thành một hệ thống dữ liệu chuyên gia có khả năng kết nối và khai thác. Tôi cho rằng có thể nghiên cứu một mô hình “Ngân hàng Dữ liệu Chuyên gia Quốc gia”, nơi ghi nhận năng lực, lĩnh vực chuyên môn, các công trình, báo cáo và những đóng góp tri thức của chuyên gia.

Từ đó, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu có thể tìm kiếm, kết nối và khai thác nguồn lực chuyên gia một cách minh bạch hơn.

Với những sản phẩm được đặt hàng hoặc khai thác theo cơ chế thương mại, cần có cơ chế cấp phép và thù lao phù hợp; đồng thời, những tri thức phục vụ lợi ích công cần được bảo đảm khả năng tiếp cận theo quy định.

Một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế tri thức không chỉ cần đầu tư vào máy móc, hạ tầng số hay trung tâm dữ liệu, mà còn phải biết tích tụ, bảo vệ và phát huy tri thức của con người. Đây chính là nguồn lực có giá trị lâu dài và có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh khác biệt.

Số hóa, tích tụ và kết nối nguồn lực tri thức của chuyên gia, nhà khoa học sẽ góp phần biến chất xám thành nguồn lực phục vụ nghiên cứu, hoạch định chính sách và đổi mới sáng tạo. Ảnh minh hoạ được tạo bởi AI

Từ “xin ý kiến” sang đặt hàng tri thức chuyên nghiệp

PV: Nhiều quốc gia đã xây dựng các cơ chế nghiên cứu, tư vấn và phản biện độc lập nhằm hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách. Để Việt Nam phát huy tốt hơn nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên số, chúng ta cần một “kiến trúc thể chế dữ liệu tri thức” như thế nào, đồng thời tạo cơ chế bồi hoàn phù hợp cho các nhà khoa học, chuyên gia?

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng: Ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Singapore hay các nước Châu Âu, khái niệm Think Tank (Viện nghiên cứu chính sách độc lập) và Expert Advisory Data (Dữ liệu tư vấn chuyên gia) được vận hành như một ngành kinh nghiệp đắt giá. Chính phủ sẵn sàng chi ra hàng triệu USD để mua các báo cáo phản biện, các tập dữ liệu dự báo của chuyên gia độc lập trước khi bấm nút thông qua một đạo luật hay một quy hoạch vĩ mô. Bởi vì họ hiểu một phép tính kinh tế đơn giản: Chi vài trăm nghìn hay vài triệu USD cho dữ liệu chất xám chất lượng cao sẽ giúp quốc gia tránh được thất thoát hàng chục tỷ USD do một chính sách sai lầm gây ra!

Việt Nam cũng cần nhìn nhận hoạt động tư vấn, nghiên cứu và phản biện chính sách như một nguồn lực cần được đầu tư bài bản hơn. Theo tôi, có thể hình dung “kiến trúc thể chế dữ liệu tri thức” theo bốn chặng.

Chặng 1: Điểm xuất phát - Bài báo và các Diễn đàn khoa học. Đây là nơi tri thức được hình thành, trao đổi và lan tỏa. Mỗi bài viết, mỗi kiến nghị, mỗi ý kiến góp ý hay phản biện khoa học đều có thể trở thành nguồn dữ liệu đầu vào có giá trị cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Đằng sau một nhận định, một dự báo hay một đề xuất giải pháp thường là quá trình nghiên cứu và tích lũy lâu dài của người đưa ra ý kiến. Vì vậy, việc ghi nhận, số hóa và tích tụ những đóng góp tri thức này sẽ giúp nguồn lực chất xám được khai thác hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn cho nghiên cứu, hoạch định chính sách và phát triển kinh tế - xã hội.

Chặng 2: Kênh trung chuyển - Báo chí chính thống và các kênh Diễn đàn truyền thông. Báo chí, các diễn đàn khoa học và các nền tảng truyền thông chuyên ngành có vai trò quan trọng trong việc đưa tri thức chuyên gia đến với xã hội và các nhà hoạch định chính sách. Báo chí cần chú trọng hơn việc ghi nhận nguồn thông tin, tác giả, quyền sở hữu trí tuệ và giá trị của các sản phẩm tri thức; đồng thời trở thành một kênh kết nối hiệu quả giữa chuyên gia, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng.

Chặng 3: Chủ thể tiếp nhận - Tiếp nhận và sử dụng tri thức trong hoạch định chính sách. Các cơ quan hoạch định chính sách cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, tư vấn và phản biện một cách minh bạch. Khi một nghiên cứu hoặc sản phẩm tư vấn được sử dụng cho một nhiệm vụ cụ thể, cần xác định rõ phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm của các bên và cơ chế thù lao. Đây là cách chuyển từ tư duy “xin ý kiến chuyên gia” sang một mô hình đặt hàng và sử dụng dịch vụ tri thức chuyên nghiệp.

Chặng 4: Điểm đáp - Quỹ Ngân sách và cơ chế định giá xuất quỹ. Các cơ quan hoạch định chính sách cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, tư vấn và phản biện một cách minh bạch. Khi một nghiên cứu hoặc sản phẩm tư vấn được sử dụng cho một nhiệm vụ cụ thể, cần xác định rõ phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm của các bên và cơ chế thù lao. Đây là cách chuyển từ tư duy “xin ý kiến chuyên gia” sang một mô hình đặt hàng và sử dụng dịch vụ tri thức chuyên nghiệp.

Điều quan trọng nhất không phải là biến mọi tri thức thành hàng hóa, mà là xây dựng một cơ chế xã hội biết ghi nhận đúng giá trị của tri thức, bảo vệ người tạo ra tri thức và sử dụng nguồn lực ấy một cách hiệu quả cho phát triển đất nước. Đó cũng là điều kiện để đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có thêm động lực đầu tư lâu dài cho nghiên cứu, sáng tạo và đóng góp vào quá trình phát triển của Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn chuyên gia!

Theo Tạp chí in số 4 tháng 8/2026