"Cánh tay máy" và con người đồng hành trong cuộc đua năng suất

22:21, 28/09/2026

Khi “cánh tay máy” ngày càng vươn xa trong nhà máy, “bàn tay con người” cũng phải chuyển mình. Giữa làn sóng AI, robot và tự động hóa, cuộc đua năng suất đang được định hình bởi cả công nghệ lẫn khả năng thích ứng của lực lượng lao động...

Ảnh minh họa - Ảnh: Vân Nguyễn.

Ảnh minh họa - Ảnh: Vân Nguyễn.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa ngày càng được đưa sâu vào sản xuất, nâng năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào khả năng phát minh công nghệ mới mà còn ở năng lực tiếp nhận, thích ứng và ứng dụng công nghệ trên diện rộng.

ỨNG DỤNG AI, ROBOT ĐỂ NÂNG NĂNG SUẤT

Tại buổi thảo luận chuyên đề “Cạnh tranh địa kinh tế toàn cầu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng & cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” vừa qua, chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế Trần Quốc Hùng nhận định: Việt Nam có thể nâng năng suất lao động không chỉ thông qua phát triển công nghệ mới mà còn bằng khả năng tiếp nhận và ứng dụng công nghệ. Hướng đi là đào tạo nguồn nhân lực có khả năng ứng dụng công nghệ, đồng thời đưa robot, AI và các giải pháp tự động hóa vào nhiều doanh nghiệp.

Theo ông Trần Quốc Hùng, câu chuyện robot tại các quốc gia như Trung Quốc không còn giới hạn ở những cánh tay máy trên dây chuyền lắp ráp. Trong vài năm gần đây, công nghệ robot được mở rộng sang nhiều lĩnh vực, từ công nghiệp, logistics đến nông nghiệp và dịch vụ. Cùng với AI, robot trở thành một phần của quá trình tự động hóa sản xuất, qua đó thay đổi cách một nền kinh tế tạo ra giá trị.

Theo vị chuyên gia này, quốc gia nào nắm bắt được AI, đưa công nghệ vào sản xuất, tự động hóa và sử dụng robot rộng rãi thì năng suất sẽ tiếp tục tăng. Ngược lại, những nền kinh tế chậm áp dụng công nghệ mới hoặc không làm chủ được khả năng ứng dụng AI có thể ngày càng tụt lại.

“Vấn đề không chỉ là doanh nghiệp Việt Nam có bao nhiêu robot, mà còn là năng suất sẽ thay đổi như thế nào khi đưa công nghệ mới vào sản xuất ở quy mô lớn”, ông Hùng nói.

Ông Hùng cho rằng khi công nghệ được triển khai trên quy mô toàn nền kinh tế, lợi thế có thể được cộng dồn theo thời gian. Theo đó, một nhà máy sử dụng robot có thể sản xuất nhanh hơn, ổn định hơn hoặc cần ít lao động trực tiếp hơn. Khi hàng nghìn, thậm chí hàng triệu doanh nghiệp cùng nâng cấp năng lực sản xuất, tác động sẽ không chỉ nằm ở từng doanh nghiệp riêng lẻ mà trở thành năng suất của cả nền kinh tế.

Ảnh: BSA.

Ảnh: BSA.

Ông Trần Quốc Hùng là Cố vấn Cao cấp tại Trung tâm Địa Kinh tế (GeoEconomics Center) thuộc Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council), Washington, D.C., Mỹ và là cựu Phó Giám đốc tại Viện Tài chính Quốc tế (IIF).  Ông từng giữ nhiều vai trò điều hành và chiến lược tại các định chế tài chính hàng đầu thế giới như Deutsche Bank, Rabobank, Merrill Lynch và Salomon Brothers tại New York, Frankfurt, Singapore và London.

Theo ông Hùng, trước hết cần phân biệt hai vấn đề là phát minh công nghệ và ứng dụng công nghệ. “Công nghệ có hai chuyện khác nhau. Thứ nhất là mình phát minh, đi đầu và phát triển công nghệ mới. Thứ hai là mình ứng dụng, vận dụng và dùng công nghệ mới”, ông phân tích.

Trong cuộc đua phát minh các công nghệ nền tảng mới hiện nay, Việt Nam khó có thể đặt mục tiêu cạnh tranh trực diện với những trung tâm công nghệ lớn như Mỹ hay Trung Quốc. Việc tự xây dựng toàn bộ phần cứng, phần mềm, mô hình AI hay robot từ đầu đòi hỏi nguồn vốn, nhân lực nghiên cứu, hệ sinh thái công nghiệp và quy mô thị trường lớn.

Tuy nhiên, theo ông Hùng, Việt Nam vẫn có thể hưởng lợi từ những công nghệ này. Thay vì coi việc phải tự phát minh robot là điều kiện tiên quyết, có thể mua hoặc tiếp nhận công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó ứng dụng vào sản xuất trong nước.

Đơn cử, robot của Trung Quốc có thể trở thành công cụ nâng năng suất cho doanh nghiệp Việt Nam; AI của Mỹ có thể được sử dụng trong quản trị, thiết kế, chăm sóc khách hàng hay phân tích dữ liệu; các phần mềm tự động hóa của châu Âu, Nhật Bản hoặc Hàn Quốc cũng có thể được tích hợp vào các dây chuyền sản xuất trong nước.

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG GẮN VỚI CÔNG NGHỆ VÀ NHÂN LỰC

Theo Báo cáo Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074 của Cục Thống kê, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” từ năm 2007, khi tỷ trọng dân số trẻ em từ 0 - 14 tuổi dưới 30% và tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên dưới 15%. Khi đó, cứ hai người trong độ tuổi lao động từ 15 - 64 tuổi gánh một người trong độ tuổi phụ thuộc, gồm dưới 15 tuổi hoặc từ 65 tuổi trở lên.

Trong giai đoạn 2024 - 2035, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động từ 15 - 64 tuổi vẫn duy trì ở mức cao, từ 67,4% năm 2024 xuống 66,9% năm 2035. Theo các chuyên gia, lực lượng lao động đông đảo tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực.

Đến năm 2036, tỷ trọng người từ 65 tuổi trở lên dự kiến đạt 15%, lần đầu vượt ngưỡng xác định thời kỳ  “dân số vàng”. Đây cũng là thời điểm Việt Nam chính thức bước ra khỏi giai đoạn này.

Trong bối cảnh đó, khi lực lượng lao động dần thu hẹp về quy mô, việc nâng năng suất không chỉ đặt ra yêu cầu về hiệu quả sử dụng nhân lực mà còn thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm các giải pháp công nghệ để tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nguồn lực

Dưới góc độ doanh nghiệp, bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị L&A, cho rằng ứng dụng AI có thể giúp năng suất tăng 1,5 - 2 lần tùy công đoạn. Do đó, đào tạo nguồn nhân lực hiện nay cần phải gắn liền với câu chuyện công nghệ.

Đồng tình với quan điểm, ông Hùng cho biết khi đó robot và AI không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp giảm chi phí mà trở thành một phần trong bài toán duy trì năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Ông Ryohei Oda, Tổng Giám đốc ABeam Consulting Vietnam - Ảnh: ABeam Consulting.

Ông Ryohei Oda, Tổng Giám đốc ABeam Consulting Vietnam - Ảnh:  ABeam Consulting.

 “Khi nhà máy ngày càng thông minh, hệ thống quản trị lực lượng lao động cũng cần phát triển tương ứng. Nếu dữ liệu vẫn phải chuyển thủ công giữa nhiều hệ thống, doanh nghiệp có thể đã số hóa quy trình nhưng chưa xây dựng được hệ sinh thái quản trị nguồn nhân lực kết nối. Vì vậy, khả năng tích hợp giữa các hệ thống cần được tính đến ngay từ đầu trong chiến lược chuyển đổi”.

“Nói cách khác, cùng một lao động nhưng phải tạo ra nhiều sản lượng, cùng một đồng vốn phải tạo ra nhiều giá trị, cùng một nhà máy phải sản xuất được nhiều hơn, nhanh hơn và chi phí thấp hơn. Lời giải có thể nằm ngay trong từng dây chuyền sản xuất, từng quy trình quản trị và quyết định đầu tư công nghệ”, ông Hùng nói.

Mặt khác, ông Ryohei Oda, Tổng Giám đốc ABeam Consulting Vietnam, cho biết chuyển đổi số đang thay đổi cách các nhà máy vận hành. Bên cạnh tự động hóa, dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo là một yếu tố ngày càng quan trọng trong mô hình “nhà máy thông minh” là cách doanh nghiệp quản trị và kết nối lực lượng lao động.

Theo ông Ryohei Oda, với các nhà sản xuất, “bài toán” nhân sự còn nằm ở tuyển dụng, chấm công, ca làm việc, hồ sơ đến các thông tin cần xác nhận trước kỳ lương. Một đợt tuyển dụng có thể đưa hàng trăm lao động mới vào nhà máy; mỗi ngày tiếp tục phát sinh lượng lớn dữ liệu chấm công, ca làm việc, hồ sơ và thông tin cần xác nhận trước kỳ lương.