Đã có 574 doanh nghiệp công bố lợi nhuận quý 2/2026, tăng trưởng tiếp tục giảm tốc
Tổng lợi nhuận sau thuế của 574 doanh nghiệp vừa công bố tăng 23,5% so với cùng kỳ, tiếp tục giảm tốc và là mức tăng thấp nhất trong bốn quý gần đây.

Tính đến ngày 27/7/2026, đã có 574/1.638 doanh nghiệp và ngân hàng niêm yết (đại diện 31,8% vốn hóa toàn thị trường) công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh quý II/2026. Tổng lợi nhuận sau thuế của nhóm này tăng 23,5% so với cùng kỳ, tiếp tục giảm tốc và là mức tăng thấp nhất trong bốn quý gần đây.
Nhóm phi tài chính tiếp tục dẫn dắt với mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 35,2% so với cùng kỳ trong quý II/2026. Trong đó, Dầu khí, Điện (đặc biệt là Nhiệt điện) và Dược phẩm tiếp tục là ba nhóm ngành ghi nhận kết quả tích cực nhất trong mùa công bố kết quả kinh doanh quý II.
Đối với Ngân hàng và Bất động sản – hai nhóm ngành chiếm tỷ trọng vốn hóa và lợi nhuận lớn nhất thị trường – xu hướng tăng trưởng vẫn chưa phản ánh đầy đủ do tỷ lệ doanh nghiệp công bố kết quả còn thấp, đặc biệt là nhóm Bất động sản.
Hiện mới có 13/28 ngân hàng công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính kết quả kinh doanh quý II (đại diện 38,4% vốn hóa ngành), với lợi nhuận sau thuế tăng 13,1% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16,6% của quý I. Trong đó, VPBank (+35,6% so với cùng kỳ) tiếp tục là điểm sáng cả về quy mô lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng.
Các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất vẫn chủ yếu thuộc nhóm vốn hóa nhỏ như BVB (+2.099%), VBB (+181,6%), NVB (+61,8%) và ABB (+48,1%), chủ yếu nhờ nền lợi nhuận cùng kỳ ở mức thấp.
Mặc dù đầu tư công được kỳ vọng là động lực tăng trưởng quan trọng trong năm 2026, tác động lên kết quả kinh doanh quý II của các doanh nghiệp niêm yết vẫn chưa thực sự rõ nét. Lợi nhuận của phần lớn doanh nghiệp xây dựng đã công bố vẫn ghi nhận xu hướng giảm tốc hoặc suy giảm, tiêu biểu như CTR, ICN, SBM, L14 và SII.
Ở nhóm đá xây dựng, VLB và NNC ghi nhận kết quả tích cực, trong khi HMR suy giảm. Nhóm gạch nổi bật với VIT, GMX, TTC và MCC ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhờ nền lợi nhuận cùng kỳ ở mức thấp. Đối với xi măng, kết quả phân hóa khi HT1 tăng trưởng chậm lại do nền so sánh cao, trong khi CLH tiếp tục cải thiện lợi nhuận.
Đối với các nhóm ngành phụ thuộc vào cầu tiêu dùng trong nước, tăng trưởng lợi nhuận tiếp tục chững lại khi sức mua phục hồi chậm. Ngành bia, đại diện là SAB, chỉ ghi nhận lợi nhuận sau thuế tăng 4,5% so với cùng kỳ, trong khi ngành sữa (VNM) và thực phẩm (MCH) cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các quý trước.
Trong khi đó, các nhóm ngành phụ thuộc vào cầu xuất khẩu ghi nhận diễn biến kém tích cực hơn khi lợi nhuận đảo chiều suy giảm ở Thủy sản và giảm tốc ở May mặc.
