Đề xuất 5 tiêu chí xác định mức hỗ trợ ngân sách với nhiệm vụ công nghệ chiến lược

21:37, 13/07/2026

Mức hỗ trợ từ ngân sách cho các đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược được đề xuất xác định trên 5 cơ sở: mục tiêu làm chủ công nghệ, giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro khoa học và công nghệ, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, khả năng thương mại hóa và lan tỏa kết quả nghiên cứu...

Ảnh minh hoạ.

Đây là nội dung tại dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến. 

Thông tư quy định việc quản lý ngân sách nhà nước đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược quy định tại Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP (Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao). 

Theo dự thảo, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước được xác định trên 5 cơ sở: mục tiêu làm chủ công nghệ, giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro khoa học và công nghệ, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, khả năng thương mại hóa và lan tỏa kết quả nghiên cứu.

Việc bố trí kinh phí từ ngân sách được thực hiện theo chuỗi phát triển công nghệ, từ nghiên cứu, phát triển công nghệ đến thử nghiệm, sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.

Dự thảo quy định ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng hoặc các nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển hạ tầng dùng chung và các nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao hoặc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quốc gia. 

Đối với nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược theo hình thức tài trợ hoặc đồng tài trợ, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% tổng kinh phí thực hiện, phần còn lại do tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân tham gia bố trí từ nguồn đối ứng hoặc nguồn hợp pháp khác. Mức hỗ trợ cụ thể được xác định dựa trên mục tiêu, giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro khoa học và công nghệ, khả năng thương mại hóa và tỷ lệ đóng góp của đơn vị tham gia.

Về cơ chế tài chính, dự thảo cho phép bố trí kinh phí dự phòng để xử lý các phát sinh trong quá trình triển khai nhiệm vụ, với mức tối đa không vượt quá 10% tổng dự toán kinh phí trước khi tính khoản dự phòng. Khoản kinh phí này được lập, thẩm định và phê duyệt cùng dự toán nhiệm vụ, chỉ được cấp khi phát sinh nhu cầu thực tế và phần không sử dụng phải hoàn trả ngân sách nhà nước.

Dự thảo cũng áp dụng cơ chế khoán chi theo kết quả đạt được tại từng mốc đánh giá và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Kết quả đánh giá ở từng giai đoạn sẽ là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí tương ứng và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo của nhiệm vụ.

Trong quá trình thực hiện, tổ chức, doanh nghiệp chủ trì được quyền chủ động điều chỉnh cơ cấu các khoản chi, nội dung chi, tiến độ thực hiện, phương án kỹ thuật và điều chuyển kinh phí giữa các nội dung công việc trong phạm vi kinh phí được giao khoán của từng mốc đánh giá nhằm bảo đảm mục tiêu và chỉ tiêu kỹ thuật của nhiệm vụ mà không phải trình cấp có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh dự toán. 

Trường hợp việc điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, sản phẩm cuối cùng, các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu hoặc tổng mức kinh phí thì phải được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Bên cạnh đó, dự thảo trao quyền cho tổ chức, doanh nghiệp chủ trì tự quyết định việc lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp khi mua sắm hoặc thuê trang thiết bị, máy móc, hàng hóa và dịch vụ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính cần thiết, hợp pháp, trung thực của hồ sơ thanh toán và hiệu quả sử dụng kinh phí.

Đối với rủi ro trong nghiên cứu, dự thảo quy định nếu nhiệm vụ được xác định thuộc trường hợp rủi ro được chấp nhận theo quy định của pháp luật, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách nhà nước đã sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung và đúng quy định, kể cả khi nhiệm vụ không đạt mục tiêu hoặc chỉ tiêu kỹ thuật do rủi ro được chấp nhận.

Việc hoàn trả chỉ áp dụng đối với phần kinh phí sử dụng sai mục tiêu, sai nội dung, sai quy định hoặc có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật.