Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược tài chính đến năm 2030

11:20, 25/06/2026

Chính phủ quyết định nâng tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 lên mức 18% GDP, tăng từ một đến hai điểm phần trăm so với quy định trước đây.

Tăng mục tiêu huy động ngân sách giai đoạn 2026-2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1119/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 về ban hành Chiến lược tài chính đến năm 2030.

Cụ thể Quyết định số 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm a,b,c và đ khoản 3 mục I Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg về mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược tài chính đến năm 2030 theo hướng tăng mục tiêu huy động ngân sách giai đoạn 2026-2030 thêm 1-2 điểm % GDP (từ khoảng 16-17% lên 18%); tăng mục tiêu tỷ trọng thu nội địa từ 86-87% lên 87-88%.

Cơ cấu chi ngân sách được nêu chi tiết hơn với mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên khoảng 51-52%. Đồng thời, mức bội chi ngân sách đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP và trần nợ nước ngoài của quốc gia tăng từ 45% lên 50% GDP.

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, quyết định bổ sung các mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tinh gọn đầu mối, chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị và dịch vụ công thiết yếu. Đồng thời, đặt ra các chỉ tiêu cụ thể hơn đối với doanh nghiệp nhà nước như có 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới vào năm 2030…

Các nhóm giải pháp

Ngoài ra, quyết định cũng bổ sung khoản 1 và khoản 2 tại mục III của Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển; xóa bỏ các rào cản, điểm nghẽn để giải phóng sức sản xuất và khơi thông mọi nguồn lực; thực hiện cuộc cách mạng về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Trong đó, xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển.

Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển nền kinh tế số (nhất là công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới...), đầu tư kinh doanh... góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hoá, số hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.

Nghiên cứu, đề xuất cơ chế đặc thù để xử lý tài sản công là nhà, đất dôi dư (nếu cần thiết), không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí.

Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân; triển khai đồng bộ, thực chất, hiệu quả các chính sách tại Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

Hỗ trợ tích cực và tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ, thu hút nguồn lực, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, mở rộng thị trường cho kinh tế tập thể, hợp tác xã.

Thứ hai, bảo đảm các yếu tố nền tảng cho tăng trưởng "2 con số" số" giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững đến năm 2045.  Trong đố, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động ứng phó hiệu quả với những biến động bên ngoài, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống; phát huy cao nhất các nguồn nội lực, bám sát mục tiêu tăng trưởng "2 con số".

Xây dựng chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm hỗ trợ mạnh mẽ cho mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong giai đoạn tới. Xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp nhà nước, vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước, vừa không ảnh hưởng lớn tới nguồn thu của ngân sách nhà nước.

Đối với chính sách đặc thù tài chính - ngân sách của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu ngân sách nhà nước. Không quy định phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước, để lại nguồn thu ngân sách trung ương khác với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Quản lý, điều hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Thực hiện tăng thu, tăng cường quản lý, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại. Triệt để tiết kiệm chi để đảm bảo nguồn lực thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế, ưu tiên bố trí nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, các nhiệm vụ quan trọng về an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, thực hiện các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Bố trí chi ngân sách nhà nước để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm hiệu quả, khả thi, không trùng lặp giữa các Chương trình mục tiêu quốc gia, không trùng lặp với các chương trình, dự án, chính sách, chế độ, nhiệm vụ chi khác, phù hợp với tiến độ thực hiện, khả năng giải ngân và cân đối ngân sách nhà nước; thực hiện phân cấp, phân quyền để tạo sự chủ động, linh hoạt cho các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của từng Chương trình…