Đơn giản hóa cấp mã số vùng trồng, rút ngắn thời gian làm thủ tục

10:48, 14/07/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...

Sầu riêng xuất khẩu phải có mã số vùng trồng.

Thời gian chờ cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói từ lâu là vấn đề được nhiều địa phương và doanh nghiệp quan tâm, nhất là vào thời điểm nông sản bước vào vụ thu hoạch. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu truy xuất nguồn gốc, mỗi thủ tục kéo dài không chỉ làm tăng chi phí mà còn khiến nông sản bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.

Tại Hội nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói diễn ra chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự thảo được xây dựng nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh khi thực hiện Nghị định 38/2026/NĐ-CP, đồng thời là giải pháp chuyển tiếp trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện nghị định này theo trình tự rút gọn.

CHUYỂN TỪ TIỀN KIỂM SANG QUẢN LÝ BẰNG DỮ LIỆU

Ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết điểm cốt lõi của dự thảo là thay đổi phương thức quản lý, từ cơ chế "xin - kiểm - cấp" sang quản lý bằng dữ liệu số kết hợp hậu kiểm. Theo đó, hồ sơ xin cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thực hiện nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia.

Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do. Đối với trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý rút xuống còn 2 ngày làm việc.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì hội nghị.

So với quy trình hiện hành, cách làm mới giúp giảm đáng kể thời gian giải quyết hồ sơ và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời không phát sinh thêm thủ tục hành chính.

Nền tảng của cơ chế mới là hệ thống dữ liệu số tập trung. Toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ và kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu liên quan. 

Nhờ đó, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất thông tin trên cùng một nền tảng thay vì phụ thuộc chủ yếu vào các đợt kiểm tra trước khi cấp mã.

Đối với các vùng trồng phục vụ xuất khẩu, dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu phải đáp ứng quy định của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Nội dung này được xử lý trong thời gian không quá 10 ngày làm việc.

Ông Huỳnh Tấn Đạt nhấn mạnh, đối với mã số phục vụ thị trường nội địa, thủ tục được rút gọn tối đa. Với mã số phục vụ xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng chỉ tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho tất cả trường hợp.

Riêng với thị trường Trung Quốc, hiện nay định kỳ 3 tháng một lần Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật mới tổng hợp danh sách mã số cấp mới để gửi phía bạn.

CẤP NHANH HƠN NHƯNG VẪN ĐẢM BẢO TIÊU CHUẨN XUẤT KHẨU

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, trước khi thống nhất phương án trình Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai phương án cấp mã số vùng trồng. Khác biệt lớn nhất nằm ở việc có bắt buộc gắn mã số vùng trồng với mã định danh đất đai ngay từ đầu hay không.

Theo phương án thứ nhất, mã số vùng trồng được cấp dựa trên vị trí thửa đất và gắn với mã định danh đất đai. Những trường hợp đã có dữ liệu trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia có thể sử dụng ngay, còn các trường hợp chưa có dữ liệu phải được UBND cấp xã xác nhận trước khi thực hiện thủ tục.

Tuy nhiên, nhiều địa phương như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La cho rằng phương án này khó triển khai ngay vì cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất chưa được chuẩn hóa dữ liệu, chủ yếu là đất nông nghiệp. Nếu chờ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai trước khi cấp mã số sẽ làm chậm tiến độ giải quyết hồ sơ, nhất là trong bối cảnh vụ thu hoạch sầu riêng tại Tây Nguyên đang đến gần.

Vì vậy, đa số địa phương thống nhất lựa chọn phương án thứ hai. Theo đó, mã số vùng trồng vẫn được cấp theo vị trí thửa đất nhưng chưa bắt buộc gắn ngay với mã định danh đất đai. Căn cứ cấp mã là thông tin kê khai của người dân, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã.

Đồng tình với hướng tiếp cận này, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ ban hành vào ngày 15/7/2026.

"Đối với những khu đất chưa có trong cơ sở dữ liệu, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích làm căn cứ cấp mã. Đây không phải là thủ tục hành chính mới mà nhằm bảo đảm mỗi mã số đều gắn với một vị trí sản xuất cụ thể, hạn chế sai lệch thông tin và tạo thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc sau này". Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Lãnh đạo Bộ cũng yêu cầu quy định về hậu kiểm cần cụ thể hơn, từ biểu mẫu, biên bản đến phương thức kiểm tra để địa phương dễ triển khai.

Bộ cũng khuyến khích thúc đẩy liên kết sản xuất, phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, những mã số vùng trồng có diện tích quá nhỏ sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu đủ sức cạnh tranh. Khi hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, địa phương không chỉ thuận lợi hơn trong quản lý, mà còn có điều kiện xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị nông sản trên thị trường.