KHCN trong nông nghiệp: Chuyển từ tư duy 'làm đề tài' sang 'tạo sản phẩm'
Khi nông nghiệp Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển xanh, giảm phát thải và cạnh tranh bằng chất lượng thay vì sản lượng, khoa học công nghệ (KHCN) đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Không chỉ dừng ở nghiên cứu hàn lâm hay hoàn thành các đề tài nghiệm thu, KHCN phải tạo ra sản phẩm cụ thể, có khả năng thương mại hóa và giải quyết trực tiếp bài toán của doanh nghiệp, người dân và thị trường.

Kết quả cuối cùng của nghiên cứu không phải là báo cáo nghiệm thu mà phải là sản phẩm được thị trường chấp nhận - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021-2025, toàn ngành đã triển khai hơn 1.200 nhiệm vụ KHCN; công nhận 461 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản và lâm nghiệp; 216 tiến bộ kỹ thuật; cấp 34 bằng độc quyền sáng chế và 19 giải pháp hữu ích. Nhiều kết quả nghiên cứu khi đưa vào thực tiễn giúp tăng hiệu quả kinh tế khoảng 30%.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy không ít nghiên cứu vẫn còn khoảng cách với thị trường, thiếu liên kết với doanh nghiệp và chưa hình thành được các sản phẩm quy mô lớn.
Thay đổi tư duy nghiên cứu khoa học
PGS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, yêu cầu lớn nhất hiện nay là thay đổi tư duy nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp.
"Kết quả cuối cùng của nghiên cứu không phải là báo cáo nghiệm thu mà phải là sản phẩm được thị trường chấp nhận, được doanh nghiệp sử dụng và mang lại giá trị gia tăng cho người nông dân", bà Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh.
Theo bà Lan, các viện nghiên cứu và trường đại học cần chuyển mạnh sang mô hình nghiên cứu ứng dụng, lấy nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm. Đồng thời, cần thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư để doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu vào quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.
Cố GS.TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, Anh hùng Lao động cũng đã nêu ý kiến về điểm yếu kéo dài của ngành nông nghiệp là "nghiên cứu nhiều nhưng ứng dụng chưa tương xứng".
Theo GS Võ Tòng Xuân, nếu nghiên cứu không gắn với nhu cầu thực tế của sản xuất thì rất khó tạo ra giá trị kinh tế.
"Nhà khoa học phải xuống đồng ruộng, xuống nhà máy, hiểu doanh nghiệp và hiểu nông dân cần gì. Làm khoa học không thể chỉ để công bố hay cất trong ngăn kéo", ông Võ Tòng Xuân nhiều lần nhấn mạnh tại các diễn đàn nông nghiệp.
Một trong những thay đổi lớn hiện nay là vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động KHCN ngày càng được đề cao.
Theo TS Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái khoa học công nghệ.
"Không thể quản lý khoa học công nghệ bằng tư duy hành chính truyền thống. Khoa học phải được vận hành theo cơ chế thị trường và chấp nhận rủi ro đổi mới sáng tạo", ông Lê Xuân Định nhấn mạnh.
Theo ông Định, việc đánh giá hiệu quả nghiên cứu trong thời gian tới cần dựa nhiều hơn vào khả năng thương mại hóa, tạo doanh thu và nâng cao năng suất lao động thay vì chỉ tính số lượng đề tài.
Hiện nhiều doanh nghiệp nông nghiệp lớn đã đầu tư mạnh vào công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa nhằm nâng cao năng suất và giảm phát thải.
Trong lĩnh vực thủy sản, AI và cảm biến thông minh đang được ứng dụng để giám sát môi trường ao nuôi, tối ưu lượng thức ăn và dự báo dịch bệnh. Trong trồng trọt, drone, hệ thống tưới chính xác và truy xuất nguồn gốc số đang giúp tiết giảm chi phí đầu vào và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của các thị trường xuất khẩu lớn.
Theo định hướng Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2030, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt trên 30%; đồng thời tạo ra thêm nhiều giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, quy trình công nghệ tiên tiến và chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất.
Công nghệ phải giải quyết bài toán xanh hóa nông nghiệp
Áp lực từ biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và các hàng rào xanh toàn cầu đang khiến KHCN trở thành yếu tố sống còn với nông nghiệp Việt Nam.
Theo Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, nông nghiệp Việt Nam muốn nâng cao giá trị gia tăng thì không thể tiếp tục tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ.
"Khoa học công nghệ phải tạo ra giống mới, công nghệ mới và quy trình sản xuất mới để giảm chi phí, nâng chất lượng và đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế", ông Phùng Đức Tiến nhấn mạnh khi bàn về phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp.
Ông cho rằng ba trụ cột quan trọng nhất của KHCN nông nghiệp hiện nay là thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao; trong đó nhân lực công nghệ cao là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn.
Các chuyên gia cho rằng để chuyển mạnh từ "làm đề tài" sang "tạo sản phẩm", điều quan trọng nhất là tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế.
Trong đó, nổi bật là thủ tục tài chính cho nghiên cứu còn phức tạp; cơ chế giao quyền sở hữu trí tuệ chưa thật sự thông thoáng; liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp còn lỏng lẻo.
GS.TS Nguyễn Lân Hùng, Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, cho rằng nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp cần "đi bằng đôi chân của thực tiễn".
"Nông dân cần công nghệ dễ làm, dễ áp dụng và có hiệu quả kinh tế ngay. Nếu công nghệ quá xa thực tế thì rất khó nhân rộng", ông Nguyễn Lân Hùng nhận định.
Theo các chuyên gia, xu hướng phát triển sắp tới của nông nghiệp Việt Nam sẽ là nông nghiệp xanh, tuần hoàn, thông minh và phát thải thấp. Điều này đồng nghĩa KHCN không chỉ hỗ trợ sản xuất mà phải trở thành động lực dẫn dắt toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.
Khi nhà khoa học đồng hành cùng doanh nghiệp, khi nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thị trường và người dân, KHCN sẽ không còn dừng ở những "đề tài trên giấy", mà trở thành nền tảng để nông nghiệp Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh toàn cầu.
