Không xuất khẩu khoáng sản đất hiếm chưa đạt tiêu chuẩn chế biến sâu
Hoạt động về đất hiếm phải bảo đảm các nguyên tắc bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững; khai thác, chế biến gắn với chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và bảo đảm tự chủ về công nghệ; không xuất khẩu khoáng sản đất hiếm chưa đạt tiêu chuẩn chế biến sâu theo quy định và chỉ được xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định…

Việc điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng đất hiếm phải tuân thủ Chiến lược quốc gia về đất hiếm. Ảnh minh họa
Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất 21/VBHN-BNNMT Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, trong đó có quy định về quản lý đất hiếm.
Cụ thể, ngoài việc tuân thủ các quy định đối với khoáng sản chiến lược, quan trọng, việc điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng đất hiếm phải tuân thủ Chiến lược quốc gia về đất hiếm.
CẤP PHÉP THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN ĐẤT HIẾM
Theo quy định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổ chức điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng và thăm dò đất hiếm bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo kế hoạch trung hạn, dài hạn. Việc cấp giấy phép thăm dò khoáng sản đất hiếm, chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản đất hiếm chỉ được thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản và đáp ứng các quy định.
Liên quan đến hoạt động khai thác và chế biến đất hiếm, văn bản quy định việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản đất hiếm chỉ thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản và đáp ứng các quy định.
Định hướng chế biến, sử dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, bảo vệ môi trường; khai thác khoáng sản đất hiếm phải gắn với dự án chế biến đến sản phẩm tối thiểu là tổng các ôxit, hydroxit, muối đất hiếm có hàm lượng TREO lớn hơn hoặc bằng 90%, khuyến khích sản xuất tới nguyên tố đất hiếm riêng rẽ(REO), công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, thu hồi tối đa khoáng sản có ích đi kèm.
Về việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản đất hiếm, trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ quan thẩm định hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chấp thuận hoặc không chấp thuận cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản đất hiếm.
Trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm, chấp thuận chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản đất hiếm. Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ không chấp thuận, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Cũng theo quy định, việc chế biến (tuyển, tinh luyện, phân tách) đất hiếm chỉ được thực hiện tại các cơ sở được phép hoạt động theo quy định của pháp luật, đáp ứng tiêu chuẩn về công nghệ, an toàn môi trường và kiểm soát phóng xạ.
Tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến đất hiếm có trách nhiệm lập và gửi báo cáo hàng tháng về sản lượng khai thác, sản lượng chế biến, sản phẩm tinh luyện và các thông tin cần thiết khác cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương.
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐẤT HIẾM CHỈ ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI ĐỐI TÁC ĐƯỢC THỦ TƯỚNG CHẤP THUẬN
Theo quy định, khu vực dự trữ khoáng sản đất hiếm được xác định trên cơ sở kết quả điều tra địa chất về khoáng sản đất hiếm, quy hoạch khoáng sản và đáp ứng các mục tiêu về phát triển bền vững kinh tế- xã hội và các yêu cầu về bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì khoanh định, phê duyệt, công bố danh mục và ranh giới khu vực dự trữ khoáng sản đất hiếm. Việc quản lý, bảo vệ khu vực dự trữ khoáng sản đất hiếm thực hiện theo quy định đối với khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, đồng thời phải bảo đảm không để thất thoát, xâm hại khoáng sản đất hiếm;…
Thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản về đất hiếm được quản lý tập trung tại cơ sở dữ liệu về địa chất, khoáng sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vận hành. Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, cung cấp dữ liệu đất hiếm phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Việc quản lý, kiểm soát tổng thể đối với đất hiếm được thực hiện thông qua hệ thống dữ liệu số quốc gia về đất hiếm, bảo đảm theo dõi đầy đủ, liên tục sản lượng khai thác, chế biến, tinh luyện, phân tách và xuất nhập khẩu đất hiếm; truy xuất nguồn gốc đất hiếm từ mỏ đến sản phẩm cuối cùng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với các bộ có liên quan tổ chức hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển công nghệ điều tra địa chất về khoáng sản, thăm dò, cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác, đóng cửa mỏ khoáng sản đất hiếm.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ.
Đáng chú ý, hợp tác quốc tế về đất hiếm chỉ được thực hiện với đối tác, tổ chức, quốc gia được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia.
Nghị định nêu rõ: Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động điều tra địa chất, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và dự trữ đất hiếm trên phạm vi cả nước; bảo đảm an ninh tài nguyên, an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia.
Việc quản lý, kiểm soát tổng thể đối với đất hiếm được thực hiện thông qua hệ thống dữ liệu số quốc gia về đất hiếm, bảo đảm theo dõi đầy đủ, liên tục sản lượng khai thác, chế biến, tinh luyện, phân tách và xuất nhập khẩu đất hiếm; truy xuất nguồn gốc đất hiếm từ mỏ đến sản phẩm cuối cùng; đối soát liên ngành giữa quản lý tài nguyên, công nghiệp, thương mại và hải quan.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước đối với điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng, thăm dò và khai thác đất hiếm; quản lý sản lượng khai thác đất hiếm theo từng mỏ, từng giấy phép, bao gồm cả đất hiếm thu hồi từ khoáng sản đi kèm.
Cùng với đó xây dựng, vận hành và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất hiếm, gồm: Dữ liệu địa chất, trữ lượng, chất lượng; dữ liệu sản lượng khai thác theo đơn vị mỏ và đơn vị quy đổi thống nhất; mã định danh mỏ, giấy phép, doanh nghiệp và lô sản phẩm đất hiếm.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chủ trì ban hành quy chuẩn kỹ thuật, chuẩn dữ liệu, phương pháp quy đổi sản lượng đất hiếm; tổ chức đối soát, xác nhận dữ liệu gốc phục vụ quản lý nhà nước liên ngành.
Về phía Bộ Công Thương chịu trách nhiệm điều phối chính sách công nghiệp, thị trường và xuất nhập khẩu đối với đất hiếm và sản phẩm đất hiếm. Đồng thời thực hiện quản lý, kiểm soát sản lượng chế biến, lưu thông và xuất nhập khẩu đất hiếm trên cơ sở khai thác, sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đất hiếm do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vận hành.
Bộ Công Thương chủ trì tổ chức hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm đất hiếm theo chuỗi giá trị, bảo đảm mỗi sản phẩm đất hiếm lưu thông trên thị trường có thông tin truy xuất nguồn gốc hợp pháp; liên thông dữ liệu với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan hải quan; không hình thành hệ thống dữ liệu trùng lặp…
