Tiền gửi tăng nhanh hơn tín dụng, thanh khoản ngân hàng bớt căng
Sau thời gian dài tăng chậm hơn tín dụng, huy động vốn bằng đồng Việt Nam đã tăng tốc và vượt nhịp cho vay. Khoảng cách giữa đầu vào và đầu ra vốn được thu hẹp giúp thanh khoản hệ thống ngân hàng dễ thở hơn, song chưa đủ cơ sở để khẳng định mặt bằng lãi suất sẽ sớm giảm mạnh.
Dòng tiền trở lại hệ thống ngân hàng
Bức tranh thanh khoản ngân hàng đang xuất hiện chuyển biến đáng chú ý sau nhiều tháng chịu sức ép từ sự chênh lệch giữa huy động và cho vay.
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 diễn ra chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, tính đến ngày 22/8, huy động vốn bằng VND tăng 8,77% so với đầu năm. Trong khi đó, dư nợ tín dụng bằng VND tăng 8,38%.
Việc tiền gửi tăng nhanh hơn tín dụng cho thấy nguồn vốn đầu vào của hệ thống ngân hàng đã có bước cải thiện rõ rệt. Đây là sự thay đổi đáng kể so với cuối quý II, thời điểm hoạt động cho vay tăng nhanh trong khi tiền gửi chưa theo kịp.
Đến cuối tháng 6, huy động vốn của các tổ chức tín dụng mới tăng hơn 5% so với đầu năm, thấp hơn mức tăng khoảng 7,4% của tín dụng. Khoảng cách này khiến nhiều ngân hàng phải đẩy mạnh tìm kiếm nguồn vốn, đồng thời làm gia tăng áp lực cân đối giữa đầu vào và đầu ra.
Chỉ trong chưa đầy hai tháng, tốc độ huy động bằng VND đã vươn lên trên tăng trưởng tín dụng cùng loại tiền. Dòng tiền quay trở lại ngân hàng giúp các tổ chức tín dụng giảm bớt nhu cầu vay mượn lẫn nhau, qua đó hạ nhiệt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
Tuy nhiên, khi đánh giá diễn biến này cần lưu ý sự khác biệt về thời điểm và phạm vi thống kê. Đến cuối tháng 7, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 8,98% trong khi huy động tiền gửi tăng 5,75%. Còn số liệu đến ngày 22/8 phản ánh riêng hoạt động huy động và cho vay bằng VND. Vì vậy, chưa thể chỉ dựa vào một mốc ngắn hạn để kết luận bài toán cân đối vốn đã hoàn toàn được giải quyết.
Sự tăng tốc của tiền gửi trong thời gian gần đây không phải diễn biến bất ngờ. Trước đó, nhiều ngân hàng đã nâng lãi suất tiết kiệm, triển khai chương trình cộng lãi suất, phát hành chứng chỉ tiền gửi và tăng huy động qua trái phiếu. Khi mức sinh lời của tiền gửi trở nên hấp dẫn hơn, một phần dòng tiền nhàn rỗi đã quay trở lại hệ thống.
Khảo sát trong tháng 8 cho thấy lãi suất niêm yết trực tuyến không còn tăng mạnh nhưng vẫn duy trì ở mức tương đối cao. Ở kỳ hạn 12 tháng, mức cao nhất tại ACB lên tới 7,8%/năm. LPBank và Saigonbank niêm yết khoảng 7,2%/năm. Một số ngân hàng như Bac A Bank, MBV, PGBank, Sacombank, VCBNeo và VIB áp dụng mức khoảng 7%/năm, trong khi nhóm ngân hàng thương mại nhà nước lớn duy trì quanh 6,8%/năm.
Ngoài mức công khai trên biểu lãi suất, một số ngân hàng còn áp dụng mức ưu đãi cao hơn cho khách hàng đáp ứng điều kiện về số tiền gửi, kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng. Tại một số ngân hàng tư nhân, lãi suất thực tế cho kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng có thể dao động từ 8,5% đến 9,2%/năm.
Dù vậy, đây thường không phải mức dành cho mọi khoản tiền gửi. Khách hàng có thể phải đáp ứng yêu cầu về số dư lớn, gửi tại quầy, sử dụng thêm sản phẩm hoặc thuộc nhóm khách hàng ưu tiên. Vì vậy, không nên coi các mức lãi suất cao nhất là mặt bằng chung của toàn hệ thống.
Chứng chỉ tiền gửi tiếp tục được nhiều ngân hàng sử dụng để bổ sung nguồn vốn có kỳ hạn dài hơn. Lãi suất của sản phẩm này tại một số nhà băng cao hơn đáng kể so với gửi tiết kiệm thông thường. VPBank có sản phẩm được niêm yết tới 9%/năm, Techcombank khoảng 8%/năm và Vietcombank tối đa 7,9%/năm.
Đổi lại, chứng chỉ tiền gửi thường có kỳ hạn dài, điều kiện chuyển nhượng hoặc rút trước hạn khác với sổ tiết kiệm. Người mua cần xem kỹ khả năng tất toán, mức lãi được hưởng khi cần tiền sớm và cơ chế chuyển nhượng, thay vì chỉ nhìn vào mức lãi suất quảng bá.

Sau thời gian dài tăng chậm hơn tín dụng, huy động vốn bằng đồng Việt Nam đã tăng tốc và vượt nhịp cho vay.
Thanh khoản hạ nhiệt nhưng lãi suất khó giảm nhanh
Không chỉ huy động dân cư và tổ chức kinh tế cải thiện, diễn biến trên thị trường liên ngân hàng cũng cho thấy áp lực vốn ngắn hạn đã dịu bớt.
Trong tuần từ ngày 24 đến 28/8, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở. Nguồn hỗ trợ này góp phần đưa lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng giảm mạnh, có thời điểm về khoảng 1,19%/năm.
Lãi suất qua đêm giảm cho thấy nhu cầu vay nóng để bù đắp thiếu hụt tạm thời giữa các tổ chức tín dụng không còn căng thẳng như trước. Khi khả năng tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn thuận lợi hơn, áp lực phải chạy đua huy động bằng mọi giá cũng phần nào được giảm bớt.
Tuy nhiên, thanh khoản ngắn hạn cải thiện không đồng nghĩa ngân hàng đã có nguồn vốn trung và dài hạn dồi dào. Phần lớn tiền gửi của người dân và doanh nghiệp vẫn tập trung ở kỳ hạn ngắn, trong khi nhiều khoản vay mua nhà, đầu tư hạ tầng, sản xuất và kinh doanh bất động sản kéo dài nhiều năm.
Sự chênh lệch về kỳ hạn khiến ngân hàng vẫn phải thận trọng trong sử dụng vốn. Một tổ chức tín dụng có thể không thiếu tiền đáp ứng nhu cầu rút tiền hằng ngày nhưng vẫn chịu sức ép khi phải cân đối nguồn vốn ổn định cho các khoản vay dài hạn.
Đây cũng là lý do mặt bằng lãi suất huy động khó giảm ngay, dù lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt. Nếu hạ lãi suất tiền gửi quá nhanh, ngân hàng có thể đối mặt với nguy cơ dòng tiền dịch chuyển sang vàng, chứng khoán, bất động sản hoặc các kênh đầu tư có mức sinh lời cao hơn.
Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh nhận định diễn biến thanh khoản từ nay đến cuối năm còn phụ thuộc nhiều vào tiến độ giải ngân đầu tư công. Khi vốn ngân sách được chi trả cho nhà thầu, doanh nghiệp và người lao động, một phần dòng tiền sẽ quay trở lại tài khoản ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Ở chiều ngược lại, giải ngân đầu tư công cũng kéo theo nhu cầu tín dụng phục vụ vật liệu, xây dựng, thiết bị và các ngành liên quan. Do đó, tác động tới thanh khoản không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền được đưa ra mà còn nằm ở tốc độ luân chuyển của dòng vốn trong nền kinh tế.
Theo lãnh đạo MB, lãi suất thời gian tới có thể chủ yếu đi ngang nhờ định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, thay vì giảm mạnh do nguồn vốn thực sự dư thừa. Nhận định này cho thấy trạng thái hiện nay phù hợp hơn với cách gọi “bớt căng” chứ chưa phải thanh khoản dồi dào trên diện rộng.
Các chuyên gia của Techcombank cũng cho rằng khả năng lãi suất giảm sâu còn hạn chế, bởi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm rất lớn. Ngân hàng vừa phải hỗ trợ tăng trưởng, vừa phải duy trì nguồn vốn ổn định và kiểm soát rủi ro kỳ hạn.
Trong khi đó, nhóm phân tích của KBSV đánh giá áp lực thanh khoản có thể đã đi qua giai đoạn căng nhất. Nếu tỷ giá giảm bớt sức ép và dòng tiền từ đầu tư công tiếp tục đi vào nền kinh tế, lãi suất huy động có khả năng điều chỉnh nhẹ từ đầu quý IV.
Dù triển vọng đã tích cực hơn, bài toán cân đối vốn vẫn cần được theo dõi sát. Trong giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng tín dụng bình quân cao hơn tăng trưởng huy động khoảng 3,8 điểm phần trăm mỗi năm. Khoảng cách kéo dài khiến tỷ lệ cho vay so với huy động tăng lên, buộc các ngân hàng phải bổ sung vốn từ thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá hoặc các nguồn khác.
Việc huy động bằng VND vượt tốc độ tăng tín dụng vào cuối tháng 8 là tín hiệu thuận lợi, nhưng mới phản ánh sự cải thiện trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Trong những tháng cuối năm, nhu cầu vay vốn thường tăng mạnh khi doanh nghiệp chuẩn bị hàng hóa, thanh toán hợp đồng và mở rộng sản xuất phục vụ mùa cao điểm.
Nếu tín dụng tăng tốc trở lại trong khi tiền gửi chậm đi, áp lực thanh khoản có thể nhanh chóng xuất hiện. Ngược lại, nếu dòng tiền tiếp tục quay lại ngân hàng, giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh và tỷ giá ổn định, các tổ chức tín dụng sẽ có thêm dư địa giữ mặt bằng lãi suất, giảm chi phí vốn và hỗ trợ lãi vay cho doanh nghiệp.
Bởi vậy, sự đảo chiều hiện nay trước hết cho thấy cuộc đua huy động đã mang lại kết quả và khoảng cách giữa tiền gửi với tín dụng đang được thu hẹp. Còn khả năng lãi suất giảm đến đâu vẫn phụ thuộc vào độ bền của dòng tiền huy động, tốc độ cho vay những tháng cuối năm và cách điều tiết thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước.
