Chính phủ "tháo gỡ đến cùng" để doanh nghiệp tự mình đi tới

10:40, 15/09/2026

Doanh nghiệp đang phải vượt qua một giai đoạn nhiều sức ép. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về hoàn thiện thể chế phát triển có ý nghĩa đặc biệt thiết thực: "Lấy thực thi làm thước đo"; đồng thời phải tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới.

Chính phủ

Ngày 22/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật

Nếu lấy thực thi làm thước đo, thì số lượng chính sách đã ban hành, số cuộc đối thoại đã tổ chức hay số kiến nghị đã được trả lời chưa thể là kết quả cuối cùng. Điều cần đo là bao nhiêu điểm nghẽn đã được tháo gỡ, bao nhiêu nguồn lực đã được đưa trở lại sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp đã giảm được bao nhiêu thời gian, chi phí.

Tinh thần ấy đang được cụ thể hóa trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định: "Chúng tôi cam kết sẽ đi đến cùng trong giải quyết các kiến nghị xác đáng".

"Đi đến cùng" là một cam kết rất mạnh mẽ và có trách nhiệm, một yêu cầu rất quan trọng. Bởi với doanh nghiệp, một kiến nghị được tiếp nhận nhưng chưa được giải quyết, một hồ sơ đã được chuyển nhưng chưa có người chịu trách nhiệm, hay một văn bản đã được trả lời nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thể hành động, đều có nghĩa là điểm nghẽn vẫn còn nguyên. Tháo gỡ đến cùng, vì thế, chính là điều kiện để doanh nghiệp đi tới.

Doanh nghiệp không chỉ thiếu nguồn lực, mà còn bị tiêu hao nguồn lực

Những biến động của thị trường có thể làm giảm đơn hàng, tăng chi phí và thu hẹp lợi nhuận. Nhưng những bất cập trong thực thi chính sách còn có thể làm tiêu hao thêm nguồn lực vốn đã rất hạn chế của doanh nghiệp. Một thủ tục kéo dài, một hồ sơ phải bổ sung nhiều lần, một quy định được giải thích khác nhau giữa các cơ quan hoặc một cuộc kiểm tra trùng lặp đều tạo ra chi phí. Đó không chỉ là lệ phí hay khoản tiền phải chi trả trực tiếp, mà còn là thời gian của người quản lý, chi phí cơ hội, sự đình trệ của dòng vốn và nguy cơ mất thị trường, giảm uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp.

Với doanh nghiệp lớn, sự chậm trễ có thể làm giảm lợi nhuận. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự chậm trễ đôi khi quyết định khả năng tồn tại. Một dự án không thể triển khai đúng hạn có thể khiến doanh nghiệp mất hợp đồng; một khoản hoàn thuế bị chậm có thể làm đứt dòng tiền; một cách hiểu pháp luật không thống nhất có thể khiến doanh nghiệp không dám đầu tư dù cơ hội đã xuất hiện. Bởi vậy, yêu cầu của Thủ tướng về xây dựng chính sách ổn định, dễ hiểu, dễ thực hiện, đồng thời giảm thực chất chi phí và thời gian tuân thủ, đã chạm đúng một vấn đề cốt lõi: thời gian xử lý của Nhà nước cũng là chi phí của doanh nghiệp.

Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7/2026 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Nhà nước không thể xóa bỏ mọi rủi ro của thị trường và cũng không nên làm thay doanh nghiệp. Nhưng Nhà nước có thể và phải ngăn ngừa những chi phí không cần thiết do quy định thiếu rõ ràng, thủ tục rườm rà hoặc sự phối hợp chưa hiệu quả của bộ máy tạo ra. Trong lúc doanh nghiệp khó khăn, cải cách một quy trình, thống nhất một cách hiểu hay rút ngắn một thời hạn xử lý đôi khi thiết thực hơn một chính sách hỗ trợ cần nhiều điều kiện để tiếp cận. Đây là cách hỗ trợ công bằng, bởi mọi doanh nghiệp làm ăn chân chính đều có thể được hưởng lợi.

Đã trả lời chưa có nghĩa là đã giải quyết

Một trong những khoảng cách cần được thu hẹp là khoảng cách giữa hoàn thành quy trình hành chính và giải quyết vấn đề thực tế. Không ít trường hợp, kiến nghị của doanh nghiệp được tiếp nhận, phân loại và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền. Các cơ quan liên quan đều có văn bản trả lời trong phạm vi chức năng của mình. Nhưng sau tất cả các công đoạn ấy, doanh nghiệp vẫn chưa biết phải làm gì tiếp theo hoặc vẫn không thể triển khai dự án.

Mỗi cơ quan có thể đã làm đúng phần việc của mình, nhưng vấn đề chung lại chưa được giải quyết. Đây là hệ quả của trách nhiệm bị chia cắt: một việc cần nhiều cơ quan phối hợp nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm theo đuổi đến kết quả cuối cùng. Vì vậy, không thể coi việc chuyển kiến nghị là kết quả; cũng không thể mặc nhiên coi văn bản trả lời là điểm kết thúc. Một kiến nghị chỉ nên được coi là đã xử lý xong khi doanh nghiệp có thể thực hiện trên thực tế; hoặc khi doanh nghiệp được giải thích rõ ràng, thống nhất và có căn cứ vì sao đề xuất không thể được chấp nhận.

Chính phủ

Giải quyết đến cùng phải bao gồm cả việc giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước mắt và sửa chữa nguyên nhân thể chế để vướng mắc ấy không tiếp tục tái diễn.

Thước đo cũng cần thay đổi. Không chỉ thống kê bao nhiêu kiến nghị đã được trả lời, mà phải xác định bao nhiêu vướng mắc đã được giải quyết. Không chỉ báo cáo bao nhiêu thủ tục đã được cắt giảm, mà cần đo doanh nghiệp thực sự tiết kiệm được bao nhiêu thời gian và chi phí. Không chỉ đếm số cuộc đối thoại đã tổ chức, mà phải theo dõi sau đối thoại có bao nhiêu điểm nghẽn được tháo gỡ.

Thủ tướng đã lưu ý rằng sửa đổi pháp luật không thể chỉ là sửa đổi kỹ thuật hoặc xử lý từng vấn đề lẻ, mà phải giải quyết những vấn đề lớn, căn cơ đang cản trở việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực phát triển. Nguyên tắc này cũng cần được áp dụng trong xử lý kiến nghị của doanh nghiệp.

Nếu một doanh nghiệp gặp vướng mắc, đó có thể là một vụ việc cụ thể. Nhưng nếu nhiều doanh nghiệp cùng vướng một quy định, một thủ tục hoặc một cách hiểu, thì đó là dấu hiệu của một lỗi hệ thống. Giải quyết đến cùng phải bao gồm cả việc giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước mắt và sửa chữa nguyên nhân thể chế để vướng mắc ấy không tiếp tục tái diễn.

Biến tinh thần "đến cùng" thành quy trình quản trị

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: "Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ". Tinh thần đó cần được áp dụng trực tiếp vào việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Không thể chỉ giao nhiệm vụ chung chung là "khẩn trương nghiên cứu, xử lý", mà phải xác định rõ ai làm, làm việc gì, hoàn thành khi nào và kết quả cuối cùng là gì. Đây cũng là tinh thần nổi bật trong các chỉ đạo gần đây của Thủ tướng Chính phủ, từ xử lý các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp tới tháo gỡ cho các dự án, đất đai tồn đọng, kéo dài.

Trước hết, mỗi vấn đề phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, dù việc giải quyết có thể cần sự tham gia của nhiều bộ, ngành hoặc nhiều đơn vị.

Thứ hai, cần phân loại vướng mắc theo mức độ cấp thiết và tác động. Những vấn đề có nguy cơ làm doanh nghiệp đứt dòng tiền, ngừng sản xuất, mất đơn hàng hoặc phải cắt giảm nhiều lao động cần được ưu tiên xử lý. Bình đẳng không có nghĩa là mọi hồ sơ đều đi theo một tốc độ, bất kể mức độ tổn thất có thể xảy ra.

Thứ ba, mỗi kiến nghị cần có mã theo dõi, cơ quan chủ trì, thời hạn hoàn thành và trạng thái xử lý được cập nhật. Công nghệ số cho phép xây dựng một hệ thống mà doanh nghiệp biết hồ sơ của mình đang ở đâu, ai đang xử lý và khi nào phải có kết quả. Đồng thời, cơ quan điều hành cũng có thể nhận diện nơi nào thường xuyên chậm trễ, loại vướng mắc nào đang lặp lại và trách nhiệm đang bị ách tắc ở khâu nào.

Thứ tư, sau mỗi cuộc đối thoại với doanh nghiệp cần hình thành một danh mục hành động cụ thể. Đối thoại không nên kết thúc bằng sự ghi nhận chung chung, mà bằng những vấn đề được xác định rõ, cơ quan được giao xử lý, thời hạn hoàn thành và cơ chế báo cáo kết quả.

Thứ năm, phải biến từng kiến nghị thành dữ liệu phục vụ cải cách. Nếu nhiều doanh nghiệp cùng phản ánh một quy định, cơ quan quản lý cần chủ động rà soát thay vì tiếp tục trả lời riêng từng trường hợp. Giải quyết một vướng mắc cho một doanh nghiệp phải mở đường cho những doanh nghiệp khác không phải tiếp tục mất thời gian vì chính vướng mắc ấy hoặc những vướng mắc tương tự.

Chính quyền địa phương hai cấp có vai trò đặc biệt trong cơ chế này. Cấp xã là nơi gần doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất nhất, vì vậy phải có khả năng phát hiện sớm, hướng dẫn đúng và chuyển nhanh những vấn đề vượt thẩm quyền. Phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng nguồn lực, dữ liệu, năng lực cán bộ và trách nhiệm giải trình.

Chính phủ

Tháo gỡ đến cùng không phải làm thay doanh nghiệp, mà là trả lại cho doanh nghiệp khả năng tự mình đi tới

Tháo gỡ để doanh nghiệp tự mình đi tới

Tháo gỡ khó khăn không đồng nghĩa với bao cấp, làm thay hoặc bảo đảm mọi doanh nghiệp đều thành công. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh luôn có sàng lọc, đầu tư luôn có rủi ro và đổi mới luôn có khả năng thất bại. Trách nhiệm của Nhà nước là kiến tạo một trật tự thể chế minh bạch, ổn định và công bằng: doanh nghiệp có năng lực được tạo điều kiện phát triển; doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời có cơ hội phục hồi; doanh nghiệp thất bại có thể rời thị trường một cách trật tự để người kinh doanh có cơ hội làm lại; còn hành vi gian lận và trục lợi phải bị xử lý nghiêm minh.

Bởi vậy, tháo gỡ không phải là tạo đặc quyền cho một số doanh nghiệp. Đó là loại bỏ những vật cản không hợp lý trên con đường kinh doanh hợp pháp. Khi Nhà nước rút ngắn được một quy trình, giảm được một tầng trung gian, thống nhất được một cách hiểu và xử lý được một điểm nghẽn kéo dài, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để đầu tư, đổi mới, tạo việc làm và đóng góp cho tăng trưởng.

Lấy thực thi làm thước đo thì không thể coi ban hành chính sách là đã hoàn thành. Đi đến cùng thì không thể coi gửi văn bản trả lời là đã giải quyết. Kết quả cuối cùng phải là điểm nghẽn được tháo gỡ, chi phí của doanh nghiệp được cắt giảm và nguồn lực xã hội được đưa trở lại đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Doanh nghiệp không cần Nhà nước đi thay con đường của mình. Điều doanh nghiệp cần là con đường ấy không bị chặn bởi những thủ tục không cần thiết, những cách hiểu thiếu thống nhất và những trách nhiệm không có người nhận. Tháo gỡ đến cùng không phải làm thay doanh nghiệp, mà là trả lại cho doanh nghiệp khả năng tự mình đi tới.