Đề xuất thuế 0,2% với đất bỏ hoang, tăng chi phí giữ đất chờ giá

13:05, 23/10/2026

Đất bỏ hoang, chậm hoặc không đưa vào sử dụng được đề xuất chịu thuế suất 0,2% trên toàn bộ diện tích, không phân chia theo hạn mức. Đề xuất hướng tới hạn chế lãng phí đất đai, đồng thời đặt ra yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng đất.

Tính thuế trên toàn bộ diện tích đất bỏ hoang

Trong hồ sơ dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung thuế suất riêng đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Mức được đưa ra là 0,2%, áp dụng cho toàn bộ diện tích thuộc diện này. Đây là nội dung đề xuất trong quá trình xây dựng luật.

Điểm đáng chú ý nằm ở cách tính không áp dụng hạn mức. Nếu thuộc diện chịu thuế, phần đất trong hạn mức cũng không được tính theo mức thấp hơn như cơ chế đang áp dụng đối với đất ở.

Hiện đất ở chịu thuế theo biểu lũy tiến từng phần: diện tích trong hạn mức áp dụng mức 0,03%; phần vượt không quá ba lần hạn mức chịu mức 0,07%; phần vượt trên ba lần hạn mức chịu mức 0,15%. Như vậy, thuế suất 0,2% được đề xuất cao khoảng 6,67 lần mức áp dụng với đất ở trong hạn mức. Đây là so sánh về thuế suất, còn nghĩa vụ cụ thể phụ thuộc diện tích và giá đất tính thuế.

Chính sách này hướng tới tăng chi phí đối với việc để đất không được khai thác. Khi giữ đất phát sinh nghĩa vụ tài chính cao hơn, người sở hữu sẽ phải tính toán kỹ hơn giữa tiếp tục nắm giữ, đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng cho chủ thể có nhu cầu.

Với hoạt động đầu tư, khoản thuế bổ sung có thể trở thành một phần chi phí phải cân nhắc ngay từ khi mua đất. Thời gian chờ đợi càng kéo dài, hiệu quả đầu tư càng phụ thuộc vào khả năng tăng giá đủ để bù đắp chi phí vốn và nghĩa vụ tài chính.

Tuy nhiên, không thể chỉ nhìn vào mức thuế suất để kết luận chính sách sẽ khiến đất bỏ hoang nhanh chóng được đưa ra thị trường. Tác động thực tế còn phụ thuộc giá tính thuế, việc xác định đúng đối tượng và khả năng tổ chức thực hiện.

Đề xuất hướng tới hạn chế lãng phí đất đai, đồng thời đặt ra yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng đất.

Cần phân định rõ đất găm giữ và đất vướng thủ tục

Vấn đề quyết định hiệu quả của đề xuất là tiêu chí nhận diện đất bỏ hoang. Một khu đất chưa có công trình có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ chủ động giữ đất chờ giá đến chưa thể xây dựng vì vướng quy hoạch hoặc thủ tục.

Tại họp báo Bộ Tài chính ngày 6/10, ông Trương Bá Tuấn, đại diện cơ quan quản lý chính sách thuế, cho biết việc xác định đất bỏ hoang, chậm hoặc không đưa vào sử dụng sẽ căn cứ pháp luật đất đai. Các tiêu chí này là cơ sở để áp dụng chính sách thuế, thay vì chỉ dựa vào hiện trạng đất đang để trống.

Góp ý về vấn đề này, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cho rằng cần làm rõ tiêu chí để tránh tạo thêm gánh nặng cho những dự án chậm triển khai do nguyên nhân khách quan. Với dự án đầu tư, việc đánh giá có thể dựa vào tiến độ trong hồ sơ pháp lý; đối với đất của cá nhân và các tổ chức khác, quá trình xác định sẽ phức tạp hơn.

Từ yêu cầu đó, quá trình hoàn thiện chính sách cần làm rõ thời điểm bắt đầu tính thời gian không sử dụng đất, căn cứ xác định chậm tiến độ và cách xử lý khoảng thời gian người sử dụng đất phải chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục. Quy trình xác minh cũng cần cho phép người dân, doanh nghiệp cung cấp hồ sơ giải trình.

Sự phân định rõ ràng sẽ giúp tăng trách nhiệm với trường hợp đủ điều kiện nhưng cố tình kéo dài việc sử dụng đất, đồng thời bảo đảm công bằng cho những chủ thể chưa thể triển khai vì vướng mắc ngoài khả năng giải quyết.

Theo ông Phan Đức Hiếu, chính sách thuế cao hơn cũng đòi hỏi doanh nghiệp địa ốc tính đầy đủ rủi ro khi lập dự án, kể cả khó khăn tài chính. Nhà đầu tư cần chuẩn bị phương án cơ cấu danh mục và rút lui khi không còn khả năng triển khai, tránh tiếp tục giữ đất kéo dài.

Để đất sớm được khai thác, công cụ thuế cần đi cùng việc tháo gỡ những hồ sơ tồn đọng và minh bạch tiến độ giải quyết thủ tục. Hiệu quả của chính sách phải được thể hiện bằng diện tích đất được đưa vào sử dụng, các dự án được triển khai và nguồn lực được khơi thông cho nền kinh tế.