Doanh nghiệp KH&CN: Lợi thế cạnh tranh đến từ năng lực công nghệ
Ưu đãi thuế và chính sách hỗ trợ có thể tiếp sức, nhưng năng lực làm chủ công nghệ và thương mại hóa nghiên cứu, mới là điều làm nên sức cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp khoa học và công nghệ
“Tấm hộ chiếu” đưa doanh nghiệp nhỏ vào những dự án lớn
“Tôi không nghĩ ưu đãi thuế là lợi ích lớn nhất. Điều quý giá nhất là khi mang danh doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DN KH&CN), khách hàng tin tưởng hơn, đối tác lớn sẵn sàng mở cửa và chúng tôi có cơ hội bước vào những dự án mà trước đây một DN nhỏ khó có thể chạm tới”.
Đó là chia sẻ của ông Lê Trung Hiếu, người sáng lập Công ty TNHH Ewater Engineering tại Hội thảo phát triển DN KH&CN theo xu hướng chuyển đổi số (CĐS) và phát triển bền vững, do Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Công ty TNHH tư vấn khoa học công nghệ (KHCN) An Phát tổ chức ngày 30/7 tại TP. Hồ Chí Minh, khi kể về hành trình đưa những thiết bị xử lý nước do DN tự nghiên cứu vào các công trình lớn như Landmark 81, Vinamilk, VinFast, sân bay Vân Đồn hay hàng nghìn thiết bị được lắp đặt trong các đơn vị quân đội.
Ít ai biết rằng, Ewater Engineering khởi đầu chỉ là một DN nhỏ được ươm tạo tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao và Khu Công nghệ cao TP. HCM. Từ một đề tài nghiên cứu ngoài ngân sách về xử lý nước bằng sóng điện từ, DN hoàn thiện hồ sơ, bảo vệ trước hội đồng khoa học và chỉ sau khoảng 2,5 tháng đã được cấp Giấy chứng nhận DN KH&CN.
Theo ông Hiếu, ưu đãi miễn, giảm thuế giúp DN có thêm nguồn lực tái đầu tư, nhưng điều tạo nên khác biệt chính là "thương hiệu công nghệ".
Nhờ chứng nhận này, một DN chỉ vài chục nhân sự vẫn có thể cạnh tranh sòng phẳng trong các gói thầu lớn, bởi khách hàng nhìn thấy năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và khả năng thương mại hóa sản phẩm.

Sản phẩm của Ewater được lắp đặt ở các toà nhà lớn. (Ảnh: Ewater)
Câu chuyện của Ewater Engineering mở ra một cách nhìn mới về việc DN Việt Nam, dù quy mô nhỏ, vẫn có thể cạnh tranh nếu đi đúng con đường: xây dựng công nghệ thật, được nhà nước công nhận, và biến công nghệ đó thành lợi thế thương mại.
Những đặc quyền dành cho doanh nghiệp KH&CN
Theo ông Chu Bá Long, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn KHCN An Phát, nhiều người vẫn nghĩ trở thành DN KH&CN chỉ đơn thuần là một danh hiệu để làm đẹp hồ sơ. Nhưng theo các quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/10/2025, bao gồm Luật KHCN và Đổi mới sáng tạo, Nghị định 268/2025/NĐ-CP và Luật Thuế Thu nhập DN, thực sự là một tấm hộ chiếu mở ra hàng loạt đặc quyền mà DN thông thường không có được.
Lợi ích đầu tiên và trực tiếp nhất là thuế. Nếu DN thông thường phải chịu mức thuế thu nhập DN 20% trong suốt vòng đời hoạt động, DN KH&CN thuộc ngành nghề ưu đãi được miễn thuế hoàn toàn trong 4 năm đầu, sau đó giảm 50% trong 9 năm tiếp theo (thuế suất thực tế chỉ còn 5%), và áp dụng mức ưu đãi 10% từ năm thứ 13 đến 15, thay vì 20% như thông thường.
Với một DN đạt khoảng 10 tỷ đồng lợi nhuận mỗi năm, riêng 4 năm đầu miễn thuế đã có thể giữ lại khoảng 8 tỷ đồng để tái đầu tư. Tính trên cả vòng đời 15 năm, khoản tiết kiệm có thể lên đến hàng chục tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các chuyên gia và nhà khoa học trực tiếp làm nghiên cứu tại DN còn được miễn thuế thu nhập cá nhân, giúp DN dễ giữ chân người giỏi hơn.
DN cũng có thêm các kênh vốn mà DN thường không tiếp cận được: hỗ trợ lãi suất khi vay để đổi mới công nghệ, tiếp cận Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF), nhận voucher tài chính để đưa sản phẩm mới ra thị trường, cùng với các ưu tiên về thuê đất tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao và hạ tầng phòng thí nghiệm dùng chung.

Theo ông Chu Bá Long, với DN KH&CN, công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi bắt nguồn từ bài toán thị trường có thật, được nghiên cứu nghiêm túc, bảo hộ đúng quy trình và thương mại hóa thành công. (Ảnh: VL)
Tuy nhiên, không phải cứ muốn là được công nhận. Điều kiện cốt lõi là DN phải sở hữu tài sản trí tuệ hợp pháp, có thể là bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, phần mềm có đăng ký bản quyền, hoặc công nghệ nhận chuyển giao hợp pháp và phải chứng minh được chuỗi logic rõ ràng: Công nghệ đó tạo ra sản phẩm, sản phẩm đang được bán ra thị trường và tạo doanh thu thực sự. Một bằng sáng chế “nằm trên giấy” mà chưa thương mại hóa được thì không đủ điều kiện.
Với DN chưa có công nghệ lõi, vẫn có hai lối đi hợp lệ: nhận chuyển giao công nghệ từ viện, trường hoặc đối tác nước ngoài, hoặc bỏ kinh phí ra nghiên cứu, giải mã công nghệ nước ngoài để làm chủ nó.
Về quy mô, quy định hiện hành yêu cầu DN chi tối thiểu 2% doanh thu cho nghiên cứu và phát triển (R&D), DN vừa phải có doanh thu từ sản phẩm KHCN đạt ít nhất 20%, DN lớn là 30%, còn DN nhỏ và siêu nhỏ không bị ràng buộc tỷ lệ, nhưng vẫn phải chứng minh có sản phẩm thương mại hóa thật.
Đáng chú ý, việc được cấp giấy chứng nhận không phải là “một lần rồi thôi”. DN phải duy trì các tỷ lệ trên hằng năm và báo cáo trực tuyến trước ngày 15/12. Nếu làm giả hồ sơ, đánh mất quyền sở hữu trí tuệ, hoặc 3 năm liên tiếp không báo cáo, DN có thể bị thu hồi giấy chứng nhận và phải hoàn trả toàn bộ ưu đãi thuế đã hưởng.
Công nghệ chỉ có giá trị khi giải đúng bài toán của thị trường
Nhìn lại câu chuyện của Ewater Engineering, có một điều đáng suy ngẫm: DN này không đi bán một thiết bị đơn lẻ, mà bán một giải pháp giải quyết bài toán vận hành thực sự của khách hàng, đó là giảm hóa chất, giảm cáu cặn, kéo dài tuổi thọ hệ thống, giảm chi phí bảo trì. Chính vì sản phẩm giải quyết đúng nhu cầu, khách hàng lớn mới chủ động tìm đến thay vì DN phải đi chào mời.
Đây cũng là bài học lớn hơn cho câu chuyện CĐS ở Việt Nam hiện nay. Ông Nguyễn Phong Phú, chuyên gia tư vấn chiến lược và vận hành DN cho rằng, nhiều DN hiện vẫn đang hiểu chưa đúng về CĐS.
Khi gặp khó khăn trong quản trị, điều hành hay bán hàng, giải pháp đầu tiên được nghĩ đến thường là mua hai hệ thống phần mềm quản trị DN phổ biến là ERP, CRM hay các phần mềm ứng dụng AI.
Theo ông, đó là một sai lầm phổ biến. “DN không thất bại vì thiếu phần mềm, mà thất bại vì số hóa sai chỗ”. Trước khi đầu tư công nghệ, DN cần được “chẩn đoán sức khỏe”, xác định đúng điểm nghẽn trong quản trị, tài chính, vận hành, nhân sự hay marketing để lựa chọn công nghệ phù hợp.
Ông Phú khuyến nghị và cho rằng, nếu DN chưa xác định rõ mình đang gặp vấn đề gì, như doanh thu tăng nhưng lợi nhuận giảm, phối hợp giữa các phòng, ban kém, nhân sự nghỉ việc nhiều, khách hàng rời bỏ, thì việc mua phần mềm trước rồi mới tìm cách sử dụng chẳng khác nào uống thuốc khi chưa khám bệnh.
Theo ông, một lộ trình đúng nên đi theo trình tự ngược lại: nhận diện đúng vấn đề, tìm nguyên nhân gốc rễ, rồi mới chọn công nghệ phù hợp để giải quyết.
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình từ bà Nguyễn Thị Ái Liên, Giám đốc Kinh doanh Cụm 1 Viettel TP.HCM. Theo bà, DN không cần sở hữu thật nhiều phần mềm rời rạc, mà cần một hệ sinh thái CĐS đồng bộ, kết nối xuyên suốt từ nghiên cứu phát triển, sản xuất, quản trị, bán hàng đến chăm sóc khách hàng.
Khi dữ liệu được liên thông trên cùng một nền tảng, DN có thể ra quyết định nhanh hơn, tối ưu chi phí vận hành, nâng cao năng suất và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Công nghệ khi đó không còn là những phần mềm riêng lẻ, mà trở thành hạ tầng giúp DN phát triển bền vững.

Bà Nguyễn Thị Ái Liên: DN không cần sở hữu thật nhiều phần mềm rời rạc, mà cần một hệ sinh thái CĐS đồng bộ. (Ảnh: VL)
Với DN KH&CN, công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi bắt nguồn từ bài toán thị trường có thật, được nghiên cứu nghiêm túc, bảo hộ đúng quy trình và thương mại hóa thành công. CĐS là công cụ để nhân rộng giá trị đó, chuẩn hóa quy trình, kết nối dữ liệu và mở rộng quy mô mà không đánh mất năng lực cốt lõi.
Khi đó, ưu đãi thuế, vốn hay đất đai không còn là tấm giấy chứng nhận, mà là bệ phóng để DN lớn lên từ chính năng lực công nghệ của mình và CĐS là cách để hành trình đó đi xa hơn, bền hơn./.
Theo Tạp chí KH&CN Việt Nam
