Hơn 808.000 tỷ đồng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

13:21, 25/08/2026

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, với tổng nguồn lực thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng.

Phiên họp chiều ngày 24/8/2026. Ảnh: Quốc hội.

Phiên họp chiều ngày 24/8/2026. Ảnh: Quốc hội.

Chiều 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 477/478 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

Chương trình được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia đã được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư, gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035.

Theo Nghị quyết, một trong những mục tiêu trọng tâm là xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.

Đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Chương trình hướng tới phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp; nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, nhóm dân cư, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Cùng với đó, Chương trình đặt mục tiêu giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc thiểu số, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các địa bàn chiến lược, biên giới và hải đảo.

Trong lĩnh vực văn hóa, mục tiêu là tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong phát triển văn hóa, xây dựng và hoàn thiện nhân cách, chuẩn mực đạo đức, bản sắc, bản lĩnh và hệ giá trị con người, gia đình Việt Nam; nâng cao đời sống tinh thần và khả năng tiếp cận, thụ hưởng văn hóa của người dân.

Nghị quyết cũng xác định yêu cầu huy động các nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho phát triển văn hóa, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; xây dựng nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, chất lượng cao; bảo tồn văn hóa truyền thống, phát triển môi trường văn hóa cơ sở và tăng cường hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.

Đối với giáo dục và đào tạo, Chương trình hướng tới chuẩn hóa, hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục, tạo bước chuyển căn bản về chất lượng; mở rộng cơ hội học tập, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và quyền học tập suốt đời.

Đồng thời, hệ thống giáo dục và đào tạo phải đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trong lĩnh vực y tế, dân số và phát triển, Chương trình đặt mục tiêu bảo đảm mọi người dân được quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh từ sớm, từ xa và ngay tại cơ sở; hạn chế bệnh tật, nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống.

Chương trình cũng hướng tới gia tăng tỷ lệ sinh, từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và tăng cường chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương.

Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước; đồng thời triển khai một số nội dung phát triển văn hóa Việt Nam tại những quốc gia có quan hệ, tương tác văn hóa lâu dài với Việt Nam và có đông người Việt Nam sinh sống, lao động, học tập.

Nguồn lực sẽ ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo và những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.

Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng.

Quốc hội giao Chính phủ rà soát, quyết định điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công và kinh phí thường xuyên của ngân sách Trung ương, bảo đảm vốn đầu tư công được bố trí tập trung, không dàn trải; đồng thời triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư, thực hiện các chính sách an sinh đối với các nhóm thuộc diện hỗ trợ và những nhiệm vụ quan trọng khác.

Trong quá trình triển khai, Chính phủ tiếp tục cân đối ngân sách Trung ương để ưu tiên hỗ trợ thêm cho Chương trình, bao gồm vốn tín dụng chính sách, trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách, tiến độ thực hiện, kết quả hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ và giải ngân vốn ngân sách nhà nước.

Tại kỳ họp Quốc hội đầu năm 2030, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời đề xuất nguồn lực cần huy động cho giai đoạn 2031 - 2035.