Kết nối dữ liệu, nâng cao năng lực ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống

12:01, 05/11/2026

Liên thông dữ liệu môi trường, tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp là một trong ngững điều kiện quan trọng để nhận diện sớm nguy cơ, xây dựng kịch bản và lựa chọn phương án ứng phó phù hợp. Thay vì xử lý riêng lẻ từng sự cố, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần hướng tới hình thành năng lực giám sát, cảnh báo và điều hành liên ngành, liên vùng, bảo đảm an ninh môi trường, nguồn nước và lương thực.

Ô nhiễm nguồn nước không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng môi trường mà còn có thể đe dọa hoạt động cấp nước sinh hoạt, sản xuất và sức khỏe cộng đồng. Hạn hán, xâm nhập mặn hay dịch bệnh có thể làm suy giảm sản lượng nông nghiệp, trong khi gián đoạn vận chuyển, tiêu thụ tiếp tục gây sức ép lên nguồn cung lương thực. 

Những nguy cơ này có khả năng tác động đồng thời đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, liên vùng trong phòng ngừa và ứng phó.

Dữ liệu phân tán làm hạn chế khả năng cảnh báo sớm

Trong lĩnh vực môi trường, các nguy cơ an ninh phi truyền thống có tính chất và mức độ rất khác nhau. Đó có thể là những sự cố từ rò rỉ hóa chất, cháy nổ, vỡ công trình chứa chất thải; cũng có thể là ô nhiễm tích lũy kéo dài, ô nhiễm không khí theo mùa hoặc sự cố lan truyền liên vùng, xuyên biên giới.

Trong khi đó, tiêu chí và ngưỡng kích hoạt ứng phó dựa trên rủi ro chưa đầy đủ. Dữ liệu quan trắc, nguồn thải, khí tượng, y tế, dân cư và hạ tầng thiết yếu còn phân tán; năng lực dự báo, truyền thông rủi ro và ứng phó tại hiện trường giữa các địa phương chưa đồng đều. Việc thiếu thông tin liên thông cùng cơ chế chỉ huy, phối hợp chưa rõ có thể dẫn đến phản ứng chậm hoặc huy động nguồn lực chưa phù hợp.

Đối với an ninh nguồn nước, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có tổng lượng nước trung bình nhiều năm khoảng 935,9 tỷ m³, trong đó khoảng 60% đến từ ngoài lãnh thổ. Nguồn nước phân bố không đều theo không gian và thời gian. Mùa cạn kéo dài từ 7-9 tháng nhưng dòng chảy chỉ chiếm khoảng 28% tổng dòng chảy năm.

Nhu cầu nước được dự báo tăng từ khoảng 84 tỷ m³ mỗi năm lên khoảng 131,7 tỷ m³ vào năm 2050. Cùng với ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và tác động của biến đổi khí hậu, những yếu tố này đặt ra sức ép lớn đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế – xã hội.

Trong lĩnh vực lương thực, rủi ro xuất hiện ở cả khâu sản xuất và chuỗi cung ứng. Thời tiết cực đoan, sinh vật gây hại có thể làm giảm sản lượng; gián đoạn vật tư đầu vào, thu hoạch, vận chuyển và tiêu thụ có thể ảnh hưởng đến khả năng duy trì nguồn cung. Vì vậy, kịch bản ứng phó cần dựa trên dữ liệu liên thông về thời tiết, nguồn nước, mùa vụ, sinh trưởng cây trồng, dịch hại và sản lượng dự kiến; xác định ngưỡng cảnh báo theo từng vùng, từng giai đoạn sản xuất.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Ứng dụng công nghệ số để nhận diện và dự báo rủi ro

Từ những yêu cầu thực tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung, từng bước kết nối thông tin về môi trường, khí tượng thủy văn, nguồn nước, sản xuất nông nghiệp, dịch hại, dân cư và hạ tầng thiết yếu.

Đây là cơ sở để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số hỗ trợ trực tiếp công tác phòng ngừa. Dữ liệu được kết nối, cập nhật và kiểm chứng sẽ phục vụ xây dựng bản đồ rủi ro, bộ chỉ số cảnh báo theo vùng và mùa vụ, hỗ trợ dự báo, điều hành và lựa chọn phương án ứng phó.

Để thực hiện, cần xác định rõ danh mục dữ liệu, cơ quan cung cấp, tần suất cập nhật, trách nhiệm kiểm chứng và cơ chế chia sẻ. Giá trị của nền tảng số phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu và khả năng đưa thông tin đến đúng cơ quan có trách nhiệm xử lý.

Cùng với kết nối dữ liệu, việc nhận diện, đánh giá, phân cấp và kích hoạt ứng phó cần có phương pháp thống nhất. Các cơ quan chuyên môn xây dựng tiêu chí kỹ thuật, hợp phần kịch bản thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở khung phương pháp chung, bảo đảm rõ trách nhiệm và tránh chồng chéo.

Việc đánh giá rủi ro cần xem xét đồng thời mức độ, phạm vi, thời gian tác động; số người chịu ảnh hưởng, nhất là nhóm dễ bị tổn thương; nguy cơ gián đoạn dịch vụ thiết yếu; khả năng lan truyền và năng lực ứng phó tại chỗ. Các tiêu chí này cũng tạo cơ sở cho việc xây dựng công cụ hỗ trợ cảnh báo, giúp cơ quan quản lý lựa chọn biện pháp phù hợp với từng tình huống.

Trong quản lý nguồn nước, Bộ đề xuất tăng cường quản trị tài nguyên nước trên nền tảng số, gắn với tích trữ, điều hòa, phân phối nước, phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sử dụng. Đối với lương thực, ưu tiên các vùng sản xuất trọng điểm, cây lúa và những tình huống thiên tai, dịch hại hoặc gián đoạn chuỗi cung ứng có nguy cơ ảnh hưởng trên diện rộng.

Trong bối cảnh các đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng có tính liên kết và khả năng lan truyền phức tạp, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần được đặt vào trung tâm của năng lực phòng ngừa, dự báo và ứng phó. Kết nối dữ liệu phải đi đôi với hoàn thiện quy trình quản trị, nâng cao năng lực phân tích và tổ chức thực thi. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là phát hiện nguy cơ sớm hơn mà còn là đưa ra quyết định chính xác hơn, ứng phó kịp thời hơn, bảo vệ an toàn cho người dân, duy trì các dịch vụ thiết yếu và tăng cường khả năng chống chịu, phục hồi của nền kinh tế và xã hội trước các rủi ro.

Trung tâm Truyền thông KH&CN