Lãi suất đã giảm, nhiều doanh nghiệp vẫn khát vốn rẻ

21:06, 27/10/2026

Thực hiện theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng thương mại đã triển khai việc giảm lãi suất cho vay 1,5–2 điểm phần trăm/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn đối mặt áp lực chi phí đầu vào, điều kiện tín dụng và khả năng tiếp cận vốn ưu đãi.

Lãi suất giảm, doanh nghiệp vẫn cần thêm dư địa

Cụ thể, ngày 19/10/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm 1,5–2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Đây là động thái nhằm giảm chi phí vốn, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm.

Trong khi huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 11,22%, tín dụng tăng 11,44%. Tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn tạo thêm sức ép cân đối nguồn vốn, đặt ra yêu cầu vừa giảm lãi suất cho vay, vừa duy trì thanh khoản và bảo đảm an toàn hệ thống.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã triển khai các chương trình giảm lãi suất. BIDV áp dụng chương trình cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam với lãi suất từ 6%/năm, giảm tối đa 2 điểm phần trăm so với mức thông thường tùy kỳ hạn và lĩnh vực. Vietcombank cam kết giảm tối thiểu 2 điểm phần trăm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm 2026.

Một số ngân hàng khác như VIB, Agribank, SHB,… cũng công bố các gói tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực ưu tiên. Dù mức lãi suất ưu đãi tại các ngân hàng khác nhau tùy thuộc vào đối tượng, mục đích vay, kỳ hạn và điều kiện của từng chương trình. Vì vậy, lãi suất thấp nhất được công bố chưa phản ánh đầy đủ chi phí vốn mà mọi doanh nghiệp có thể tiếp cận.

Ảnh: Minh họa

Bên cạnh đó, khoảng cách giữa chính sách giảm lãi suất và khả năng tiếp cận vốn thực tế được thể hiện qua kết quả khảo sát doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê. Báo cáo xu hướng sản xuất, kinh doanh quý III/2026 cho thấy 45,2% doanh nghiệp kiến nghị ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, tăng 1,8 điểm phần trăm so với quý II. Đồng thời, 40,7% doanh nghiệp đề nghị có biện pháp bình ổn giá nguyên vật liệu, năng lượng.

Đáng chú ý, có 79,9% doanh nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh quý III tốt hơn hoặc giữ ổn định so với quý trước. Tỷ lệ này cho thấy hoạt động sản xuất có dấu hiệu cải thiện, nhưng kiến nghị giảm lãi suất vẫn gia tăng. Nói cách khác, triển vọng đơn hàng và sản xuất tích cực hơn chưa đồng nghĩa áp lực tài chính đã được giải tỏa.

Cục Thống kê cũng ghi nhận 31,3% doanh nghiệp trong ngành cho biết chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng trong quý III. Khi giá nguyên liệu, năng lượng và các chi phí vận hành còn gây sức ép, phần lợi nhuận dành cho tái đầu tư có thể bị thu hẹp. Nếu tiếp tục phải vay vốn với chi phí cao, doanh nghiệp sẽ khó tích lũy nguồn lực để đổi mới công nghệ, nâng công suất và mở rộng thị trường.

Những số liệu này cho thấy giảm lãi suất vẫn là yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, song hiệu quả chính sách cần được đánh giá bằng mức giảm chi phí vay thực trả, khả năng giải ngân và tác động đến hoạt động sản xuất, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng gói tín dụng được công bố.

Khơi thông dòng vốn, không chỉ giảm giá vay

Một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp vẫn khát vốn rẻ là điều kiện tiếp cận tín dụng chưa đồng đều. Lãi suất chỉ là một yếu tố trong quyết định vay vốn; ngân hàng còn xem xét khả năng trả nợ, dòng tiền, lịch sử tín dụng, tài sản bảo đảm và tính khả thi của phương án kinh doanh.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, những hạn chế về quy mô vốn chủ sở hữu, hệ thống kế toán, khả năng chứng minh doanh thu và tài sản thế chấp có thể trở thành rào cản. Ngay cả khi một chương trình cho vay đưa ra mức lãi suất ưu đãi, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các điều kiện cấp tín dụng. Vì thế, mức lãi suất thấp nhất trong quảng bá không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp có nhu cầu đều được vay ở mức đó.

Một vấn đề khác nằm ở chu kỳ dòng tiền. Doanh nghiệp thường phải chi trả tiền nguyên liệu, nhân công, vận chuyển và các chi phí sản xuất trước khi thu được tiền hàng. Nếu khách hàng thanh toán chậm, khoản phải thu tăng lên, nhu cầu vốn lưu động cũng tăng theo. Doanh nghiệp có thể sở hữu đơn hàng và vẫn có lợi nhuận trên sổ sách nhưng thiếu tiền để duy trì sản xuất, buộc phải vay bổ sung hoặc trì hoãn kế hoạch đầu tư.

Trong bối cảnh đó, hạ lãi suất cần đi cùng việc cải thiện phương thức cấp tín dụng. Thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể tăng cường đánh giá dòng tiền, lịch sử giao dịch, hợp đồng đầu ra và dữ liệu kinh doanh đã được xác thực. Tài trợ chuỗi cung ứng, bao thanh toán và cho vay theo đơn hàng cũng là những hướng có thể giúp doanh nghiệp chuyển hóa khoản phải thu thành nguồn vốn phục vụ sản xuất.

Tuy nhiên, mở rộng các phương thức cho vay này không đồng nghĩa hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng. NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời không nới lỏng điều kiện cấp tín dụng hoặc đánh đổi chất lượng tín dụng để tăng trưởng dư nợ. Đây là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm dòng vốn đến đúng nhu cầu, hạn chế phát sinh nợ xấu và duy trì khả năng cung ứng vốn ổn định.

Về phía doanh nghiệp, việc nâng cao chất lượng quản trị tài chính cũng có ý nghĩa quyết định. Báo cáo tài chính minh bạch, kế hoạch dòng tiền cụ thể, phương án kinh doanh khả thi và cơ chế kiểm soát công nợ sẽ giúp ngân hàng đánh giá chính xác hơn khả năng trả nợ. Doanh nghiệp cũng cần tính toán nhu cầu vốn theo chu kỳ sản xuất, tránh vay vượt khả năng tạo dòng tiền hoặc sử dụng vốn ngắn hạn cho các dự án có thời gian thu hồi vốn dài.

Về phía cơ quan quản lý, cần theo dõi sát mức giảm lãi suất thực tế và kết quả tiếp cận vốn của từng nhóm doanh nghiệp. Việc công khai điều kiện hưởng ưu đãi, minh bạch lãi suất cho vay và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn khi tìm kiếm nguồn vốn. Đồng thời, các chính sách bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển các kênh tài trợ ngoài tín dụng ngân hàng cần được triển khai đồng bộ để giảm sự phụ thuộc vào một nguồn vốn duy nhất.

Lãi suất giảm là điều kiện quan trọng để hạ chi phí tài chính, nhưng chưa đủ để giải quyết toàn bộ bài toán vốn của doanh nghiệp. Khi rào cản về tài sản bảo đảm, dòng tiền và khả năng hấp thụ vốn vẫn tồn tại, lợi ích từ chính sách khó lan tỏa đồng đều. Điều doanh nghiệp cần không chỉ là khoản vay rẻ hơn, mà còn là khả năng tiếp cận vốn đúng thời điểm, phù hợp chu kỳ kinh doanh và đủ sức chuyển hóa thành năng lực sản xuất, lợi nhuận và tăng trưởng bền vững.