Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia

13:00, 26/10/2026

Việc xây dựng dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia nhằm khắc phục các hạn chế, khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ ở các lĩnh vực bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; đơn giản hóa thủ tục hành chính; góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia- Ảnh 1.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI sáng nay 26/10 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Sáng nay (26/10), kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục chương trình tại Hội trường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Các đại biểu Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày Tờ trình Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Quy định 3 nhóm công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia

Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia quy định về nguyên tắc bảo vệ, tiêu chí xác định, thẩm quyền xác định, biện pháp bảo vệ, lực lượng bảo vệ, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; quản lý công trình an ninh, khu an ninh; chính sách trong hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Đồng thời, quy định loại trừ việc bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự theo quy định của Luật quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

Dự án Luật được xây dựng nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, việc xây dựng dự án Luật nhằm khắc phục các hạn chế, khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ ở các lĩnh vực bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; đơn giản hóa thủ tục hành chính; góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia- Ảnh 2.

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày Tờ trình Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Dự thảo Luật quy định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia gồm 3 nhóm:

Nhóm 1: Công trình trọng điểm về an ninh quốc gia là các công trình thuộc khu vực trọng yếu theo quy định của pháp luật về cảnh vệ;

Nhóm 2: Công trình an ninh, khu an ninh là công trình, khu vực do lực lượng Công an nhân dân quản lý, sử dụng phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Theo chức năng nhiệm vụ, mục đích sử dụng, công trình an ninh và khu an ninh phân thành 3 loại.

Nhóm 3: Công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia là công trình thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan, tổ chức, địa phương, trừ các công trình do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý.

Theo tính chất quan trọng và yêu cầu bảo vệ, công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia được phân thành 3 loại. Đồng thời, phân cấp thẩm quyền quyết định đưa vào Danh mục công trình liên quan đến an ninh quốc gia cho Thủ tướng Chính phủ (đối với công trình loại 1), Bộ trưởng Bộ Công an (đối với công trình loại II), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với công trình loại III).

Đối với công trình trọng điểm về an ninh quốc gia và công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia, dự thảo Luật quy định theo hướng dẫn chiếu đến quy định của pháp luật chuyên ngành. Đối với công trình an ninh, khu an ninh, dự thảo Luật quy định việc xác định phạm vi bảo vệ và biện pháp bảo vệ trên cơ sở tham khảo và bảo đảm tương đồng với quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

Dự thảo Luật quy định lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình; không quy định về lực lượng của Bộ Quốc phòng vì đã được điều chỉnh tại Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự. Đồng thời, quy định về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ, trong đó có trách nhiệm phối hợp của lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình với các lực lượng Công an, Quân đội và các lực lượng khác có liên quan. Ngoài ra, dự thảo Luật cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ công trình; hợp tác quốc tế trong bảo vệ công trình; nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Luật gồm 7 chương, 41 điều.

Khắc phục hạn chế, bất cập sau gần 20 năm thi hành Pháp lệnh năm 2007

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Tấn Tới đã báo cáo thẩm tra về Dự án Luật này, trong đó nội dung nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới; khắc phục hạn chế, bất cập sau gần 20 năm thi hành Pháp lệnh năm 2007; đồng thời cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đối với các nội dung liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Nội dung dự thảo Luật phù hợp với Hiến pháp năm 2013, cơ bản bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát quy định về chế độ, chính sách đối với lực lượng bảo vệ cho phù hợp với Kết luận số 226-KL/TW; luật hóa cụ thể hơn các tiêu chí, điều kiện hạn chế quyền công dân tại Điều 20 và khoản 5 Điều 10; tiếp tục rà soát để bảo đảm thống nhất với các luật chuyên ngành liên quan, bảo đảm phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982; đồng thời đánh giá kỹ tính khả thi về nguồn lực, nhân lực và chi phí vận hành hệ thống giám sát kỹ thuật.

Hồ sơ dự án Luật được Chính phủ chuẩn bị đầy đủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình tự thủ tục đúng quy định, đủ điều kiện trình Quốc hội cho ý kiến. Bố cục gồm 7 chương, 41 điều là phù hợp. Có ý kiến đề nghị bổ sung điều khoản riêng về đối tượng áp dụng; rà soát sắp xếp lại các điều quy định về hợp tác quốc tế, quản lý nhà nước; bảo đảm cân đối dung lượng các điều quy định chế độ bảo vệ giữa các nhóm công trình.

Báo cáo về những góp ý cụ thể vào một số nội dung của dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho biết, về tiêu chí xác định, phân loại công trình (Điều 6, Điều 7), Ủy ban cơ bản nhất trí với quy định tại Điều 6, Điều 7. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị: Nghiên cứu thống nhất một hệ thống tiêu chí, phương pháp phân loại; bổ sung tiêu chí định lượng cho công trình loại I (an ninh năng lượng, hạ tầng số); quy định trong Luật nguyên tắc và nhóm tiêu chí (mức độ phụ thuộc, khả năng thay thế, tính liên tục), giao Chính phủ quy định ngưỡng kỹ thuật cụ thể. 

Đối với biện pháp bảo vệ công trình trọng điểm về an ninh quốc gia (Điều 10), Ủy ban cơ bản nhất trí với quy định tại Điều 10. Tuy nhiên, Ủy ban cho biết, có ý kiến đại biểu đề nghị: Đối với thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định tại khoản 5 Điều 10, đề nghị luật hóa cụ thể tiêu chí "đặc biệt cấp thiết", phạm vi, thời hạn, đầu mối chỉ huy, cơ chế báo cáo và quy trình chấm dứt áp dụng; tham khảo Luật Tình trạng khẩn cấp quy định Thủ tướng Chính phủ chỉ áp dụng sau khi được cấp có thẩm quyền đồng ý; rà soát xây dựng nguyên tắc chung tại Chương I để quản lý thống nhất các trường hợp "chưa được pháp luật quy định" trong toàn bộ dự thảo Luật.

Về chuyển mục đích sử dụng công trình an ninh, khu an ninh (Điều 14), Ủy ban cơ bản nhất trí với nguyên tắc, trường hợp và thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng tại các khoản 1, 2, 3 Điều 14. Tuy nhiên đề nghị: Việc bố trí quỹ đất mới phải trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất an ninh và quy hoạch cấp tỉnh theo khoản 4 Điều 68 Luật Đất đai năm 2024; bảo đảm thống nhất về thứ tự ưu tiên áp dụng pháp luật bồi thường, hỗ trợ với Luật Đất đai…