Sản xuất công nghiệp bứt phá ngay trong tháng đầu năm 2026

15:50, 06/02/2026

Nhờ đơn hàng cải thiện và số ngày làm việc nhiều hơn, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2026 ước tăng mạnh 21,5% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo bứt phá với mức tăng 23,6%, dẫn dắt đà tăng trưởng tại tất cả địa phương và tạo động lực khởi sắc cho toàn ngành ngay từ đầu năm…

Sản xuất công nghiệp khởi sắc ngay trong tháng đầu năm 2026.

Theo báo cáo được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/2, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 01/2026 ước giảm 0,2% so với tháng trước  và tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 14,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,6%; ngành khai khoáng tăng 10,3%.

Về tình hình sản xuất của các ngành công nghiệp trọng điểm cấp II trong tháng 1/2026 so với cùng kỳ năm trước, báo cáo của Cục Thống kê cũng cho thấy những kết quả tích cực. Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại với mức tăng 41,9%; tiếp đến là ngành sản xuất xe có động cơ tăng 36,6% và sản xuất kim loại tăng 35,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 35,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,9%; sản xuất đồ uống tăng 26,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 25,6%; sản xuất trang phục tăng 25,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa.... tăng 21,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 21,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,7%.

Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp là sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 9,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 6,2%.

Tốc độ tăng, giảm chỉ số
IIP tháng Một các năm 2022-2026
so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP tháng Một các năm 2022-2026 so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.

Về tình hình sản xuất công nghiệp tháng 1/2026 so với cùng kỳ năm trước tại các địa phương, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Tốc độ tăng, giảm IIP tháng 01/2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%). Nguồn: Cục Thống kê.Tốc độ tăng, giảm IIP tháng 01/2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%). Nguồn: Cục Thống kê.

Xét về các sản phẩm cụ thể trong tháng 1/2026 so với cùng kỳ năm trước, linh kiện điện thoại là mặt hàng gây bất ngờ lớn nhất với mức tăng trưởng kỷ lục 92,7%. Sự bùng nổ của nhóm hàng này, cùng với xe máy (tăng 54,3%), xi măng (tăng 48,9%), ô tô (tăng 48,5%) đã cho thấy năng lực sản xuất của Việt Nam đang đáp ứng tốt các đơn hàng lớn.

Ngược lại, một số sản phẩm trong tháng 1/2026 giảm so với cùng kỳ năm trước là phân ure giảm 40,0%, điện thoại di động giảm 6,1%, cho thấy những thách thức trong việc cạnh tranh và biến động giá nguyên liệu đầu vào. Đây là những “nốt trầm” cần thiết để các doanh nghiệp nhìn nhận lại và điều chỉnh chiến lược sản phẩm sao cho tối ưu nhất trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến số.

Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/01/2026, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,3% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và giảm 0,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 6,0%.

Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,2% so với thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 4,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% và tăng 1,6%.