Sinh viên khối ngành kỹ thuật, công nghệ tăng mạnh

14:42, 04/11/2026

Quy mô đào tạo đại học tiếp tục mở rộng, trong đó khối ngành kỹ thuật, công nghệ và các lĩnh vực liên quan có hơn 753.000 sinh viên, tăng khoảng 28,5% so với năm học 2022–2023. Sự gia tăng này cho thấy những chuyển động đáng chú ý trong cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao.

Theo số liệu thống kê về giáo dục đại học, năm học 2025–2026, cả nước có 226 cơ sở giáo dục đại học. Quy mô người học tính đến tháng 8/2026 đạt gần 2,8 triệu người, bao gồm 2.595.831 sinh viên đại học, 139.276 học viên cao học và 63.867 nghiên cứu sinh.

Trong tổng số người học, trình độ sau đại học chiếm khoảng 7,26%. Đây là lực lượng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, phát triển công nghệ và bổ sung nguồn nhân lực chuyên môn cao cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Khối ngành kỹ thuật, công nghệ dẫn đầu về quy mô

Trong bảy khối ngành đào tạo đại học chính quy, khối ngành V có số lượng sinh viên lớn nhất, với 753.286 người trong năm học 2025–2026.

Khối ngành này bao gồm nhiều lĩnh vực như toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sản xuất và chế biến, kiến trúc và xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và thú y.

Đáng chú ý, quy mô sinh viên khối ngành V tăng liên tục qua các năm học. Từ 586.024 sinh viên trong năm học 2022–2023, số lượng tăng lên 648.084 vào năm học 2023–2024, đạt 707.611 trong năm học 2024–2025 và tiếp tục tăng lên 753.286 trong năm học 2025–2026.

Như vậy, sau ba năm học, khối ngành này tăng thêm hơn 167.000 sinh viên, tương đương khoảng 28,5%.

Xếp sau là khối ngành III, gồm kinh doanh, quản lý và pháp luật, với 593.162 sinh viên. Khối ngành VII, bao gồm khoa học xã hội và hành vi, nhân văn, báo chí và thông tin cùng nhiều lĩnh vực dịch vụ khác, có 541.387 sinh viên.

So với năm học 2022–2023, quy mô sinh viên khối ngành III tăng khoảng 16,5%, trong khi khối ngành VII tăng khoảng 35%.

Ở các nhóm ngành còn lại, lĩnh vực sức khỏe có 190.337 sinh viên; khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên có 120.225 sinh viên; nghệ thuật có 35.088 sinh viên; khoa học sự sống và khoa học tự nhiên có 30.408 sinh viên.

Số liệu cho thấy quy mô đào tạo có sự gia tăng ở cả bảy khối ngành, song tốc độ tăng không đồng đều. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục theo dõi cơ cấu ngành học, năng lực đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.

ddt-4193-1793763022.jpg

Sinh viên trong lễ tốt nghiệp đại học. (Ảnh minh hoạ: ULIS- VNU)

Hơn 848.000 người học trong các lĩnh vực STEM

Cùng với sự gia tăng quy mô của khối ngành kỹ thuật và công nghệ, đào tạo STEM tiếp tục ghi nhận những chuyển biến đáng chú ý.

Theo thống kê, có 848.286 người đang theo học tại tám lĩnh vực thuộc nhóm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), chiếm khoảng 30,3% tổng quy mô người học trong giáo dục đại học.

Trong đợt xác nhận nhập học đầu tiên của kỳ tuyển sinh đại học năm 2026, các ngành STEM ghi nhận 211.113 thí sinh xác nhận nhập học, tương đương 33,61% tổng số thí sinh xác nhận nhập học trong đợt này.

Một số ngành liên quan đến khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch bán dẫn và tự động hóa tiếp tục có mức điểm chuẩn cao. Có hơn 17 ngành thuộc các lĩnh vực này lấy điểm chuẩn từ 28 điểm trở lên theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp THPT.

Những con số trên phản ánh sức hút của một số ngành khoa học và công nghệ trong tuyển sinh đại học. Tuy nhiên, số lượng người học tăng và điểm chuẩn cao chưa đủ để khẳng định chất lượng đào tạo hay mức độ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng.

Để phát triển nguồn nhân lực công nghệ có chất lượng, việc mở rộng quy mô cần đi cùng đầu tư cho đội ngũ giảng viên, cơ sở thực hành, nghiên cứu và tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.

Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý 41 cơ sở giáo dục đại học

Bên cạnh những thay đổi về quy mô và cơ cấu ngành học, mạng lưới giáo dục đại học hiện được phân cấp quản lý cho nhiều bộ, ngành, địa phương và các chủ thể khác.

Trong tổng số 226 cơ sở giáo dục đại học được thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 41 cơ sở, tương đương khoảng 18%.

Một số bộ khác cũng quản lý số lượng đáng kể các cơ sở giáo dục đại học, như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với 13 cơ sở; Bộ Y tế có 11 cơ sở; Bộ Công Thương có 10 cơ sở; Bộ Xây dựng và Bộ Công an mỗi bộ quản lý 8 cơ sở; Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý 6 cơ sở.

Ngoài ra, 26 cơ sở thuộc phạm vi quản lý của UBND các tỉnh, thành phố và 68 cơ sở thuộc khu vực ngoài công lập.

Việc các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc nhiều cơ quan quản lý phản ánh đặc điểm đa dạng của hệ thống đào tạo. Trong bối cảnh nhu cầu nhân lực ngày càng thay đổi, yêu cầu đặt ra là tăng cường phối hợp trong quy hoạch mạng lưới, phát triển ngành đào tạo và bảo đảm chất lượng.

Đặc biệt, với các lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và tự động hóa, sự gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và sử dụng lao động có ý nghĩa quan trọng.

Sự gia tăng số lượng sinh viên là tín hiệu đáng chú ý về quy mô đào tạo, nhưng hiệu quả phát triển nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào chất lượng đầu ra, năng lực thực hành và khả năng thích ứng của người học trước yêu cầu của nền kinh tế.