TP Hồ Chí Minh tháo “điểm nghẽn” cho năng lượng và kinh tế biển
Việc sửa đổi Luật Điện lực và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý mà còn tạo nền tảng pháp lý cho các động lực tăng trưởng mới.
Từ thực tiễn phát triển của TP.Hồ Chí Minh, địa phương có nhu cầu năng lượng lớn và không gian biển mở rộng sau sáp nhập, nhiều kiến nghị đã được đặt ra với mục tiêu xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy phát triển xanh, bảo đảm an ninh năng lượng và khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển.
Thể chế phải đi trước để khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng
Trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ phát triển đất nước, việc sửa đổi các đạo luật liên quan đến điện lực và tài nguyên biển đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Thực tiễn phát triển của TP.Hồ Chí Minh cho thấy, nếu không kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, nhiều dư địa tăng trưởng sẽ khó được khai thác hiệu quả.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Lộc Hà phát biểu tại buổi làm việc.
Tại buổi làm việc giữa Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội với UBND TP.Hồ Chí Minh ngày 28/7, nhiều vấn đề thực tiễn đã được phân tích nhằm phục vụ công tác thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Theo lãnh đạo Sở Công Thương, Thành phố đang triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời xây dựng Đề án phát triển TP.Hồ Chí Minh trở thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia. Định hướng này không chỉ tích hợp các lĩnh vực điện, khí, LNG, lọc hóa dầu và năng lượng tái tạo mà còn hướng đến hình thành hệ sinh thái năng lượng hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của siêu đô thị.
Song hành với quá trình quy hoạch đô thị sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP.Hồ Chí Minh cũng rà soát toàn diện nhu cầu phụ tải điện để bảo đảm sự đồng bộ với quy hoạch công nghiệp, logistics, cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu và các khu vực phát triển mới.
Hạ tầng điện của Thành phố tiếp tục được đầu tư với quy mô lớn. Đến cuối năm 2025, hệ thống điện gồm 8 trạm biến áp 500 kV, 30 trạm 220 kV và 159 trạm 110 kV cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng điện. Cùng với đó, khoảng 240 dự án ngầm hóa lưới điện đã hoàn thành, góp phần nâng cao chất lượng cung ứng điện và chỉnh trang đô thị. Giai đoạn 2026-2030, ngành điện dự kiến tiếp tục đầu tư khoảng 2.500 tỷ đồng để phát triển hạ tầng.
Đáng chú ý, TP.Hồ Chí Minh đang thúc đẩy hàng loạt dự án năng lượng sạch và năng lượng chuyển đổi. Hai dự án điện khí LNG Hiệp Phước và Long Sơn có tổng công suất khoảng 4.200 MW đang được triển khai. Hơn 22.700 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất gần 1.839 MWp đã được đưa vào vận hành, trong khi các dự án điện gió gần bờ và ngoài khơi tại Cần Giờ, Long Hải, Hồ Tràm cũng đang được nghiên cứu với tổng công suất đề xuất trên 16.000 MW.
Theo dự báo, nhu cầu điện thương phẩm của Thành phố sẽ tăng mạnh, từ hơn 56 tỷ kWh năm 2025 lên gần 94 tỷ kWh vào năm 2030. Áp lực từ quá trình phát triển công nghiệp, trung tâm dữ liệu, giao thông điện và các khu đô thị mới đặt ra yêu cầu phải phát triển đồng bộ cả nguồn điện lẫn hệ thống truyền tải.
Tuy nhiên, nhiều rào cản vẫn hiện hữu. Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch điện với quy hoạch đất đai, xây dựng; hạn chế về quỹ đất; thủ tục đầu tư còn kéo dài; cùng với khoảng trống pháp lý đối với các mô hình mới như điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ, mua bán điện trực tiếp (DPPA), lưu trữ năng lượng hay hạ tầng trạm sạc xe điện đang ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án.
Từ thực tiễn đó, TP.Hồ Chí Minh kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực theo hướng bảo đảm tính thống nhất với các luật liên quan, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, hoàn thiện cơ chế phát triển LNG, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời mái nhà, chuyển đổi số trong ngành điện và tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương. Đây được xem là giải pháp quan trọng để khơi thông nguồn lực, củng cố an ninh năng lượng và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Hoàn thiện hành lang pháp lý để phát huy lợi thế kinh tế biển
Cùng với năng lượng, không gian biển đang mở ra dư địa phát triển mới cho TP.Hồ Chí Minh sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Quy mô quản lý được mở rộng với hệ thống cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và đặc khu Côn Đảo đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ chế quản lý hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Cảng Mép Cái – Thị Vải hiện là một trong những cảng container hiệu quả nhất thế giới.
Theo lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Thành phố đã triển khai nhiều chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, tăng cường quan trắc môi trường biển, giảm rác thải nhựa, ứng phó sự cố tràn dầu và xây dựng Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ giai đoạn 2026-2030.
Mặc dù vậy, tiềm năng kinh tế biển vẫn chưa được khai thác tương xứng. Công tác quản lý còn phân tán, thiếu cơ chế điều phối thống nhất; hệ sinh thái ven biển chịu áp lực lớn từ ô nhiễm, biến đổi khí hậu, sạt lở và rác thải nhựa. Bên cạnh đó, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật về giao khu vực biển khiến nhiều dự án kéo dài thời gian chuẩn bị và triển khai.
Xuất phát từ thực tiễn này, TP.Hồ Chí Minh đề xuất bổ sung cơ chế xử lý xung đột trong sử dụng không gian biển, cho phép khai thác đa mục đích, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp vùng bờ, bổ sung quy định về kinh tế tuần hoàn biển, giảm phát thải carbon, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản lý tài nguyên biển.
Địa phương cũng kiến nghị đơn giản hóa thủ tục giao, cho thuê khu vực biển; tăng cường phân cấp cho địa phương; đồng thời xây dựng các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, logistics quốc tế, năng lượng tái tạo ngoài khơi và đô thị biển thông minh.
Đánh giá tại buổi làm việc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi ghi nhận những kiến nghị xuất phát từ thực tiễn quản lý của TP.Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng để hoàn thiện các dự án luật theo hướng sát thực tế, nâng cao tính khả thi khi triển khai.
Ông cho biết, trước khi làm việc với Thành phố, Đoàn khảo sát đã trực tiếp khảo sát tại Côn Đảo và khu lấn biển Cần Giờ nhằm thu thập thêm thông tin phục vụ công tác thẩm tra. Từ kết quả khảo sát, Đoàn đề nghị TP.Hồ Chí Minh tiếp tục nghiên cứu các giải pháp phát triển đô thị biển, sử dụng hiệu quả không gian biển đa mục đích, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn thiên nhiên.
Đối với Côn Đảo và Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, ông nhấn mạnh yêu cầu phải bảo vệ các giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh và hệ sinh thái đặc hữu trong quá trình phát triển, coi đây là nguyên tắc xuyên suốt khi xây dựng chính sách.
Đặc biệt, ông Tạ Đình Thi lưu ý các quy định chuyển tiếp trong hai dự án luật cần được rà soát kỹ lưỡng nhằm hạn chế phát sinh vướng mắc khi luật được ban hành, đồng thời đề nghị các bộ, ngành và địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, tiếp thu các kiến nghị phù hợp từ thực tiễn.
Tiếp thu ý kiến của Đoàn khảo sát, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Lộc Hà khẳng định Thành phố sẽ chỉ đạo các sở, ngành khẩn trương rà soát, cập nhật đầy đủ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý, hoàn thiện các báo cáo và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các dự án luật.
Việc hoàn thiện khung pháp lý không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà còn tạo nền tảng thể chế lâu dài để TP.Hồ Chí Minh phát huy vai trò đầu tàu kinh tế, trở thành trung tâm năng lượng, logistics và kinh tế biển hiện đại của cả nước, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
