Việt Nam đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp làm chủ công nghệ giao dịch số vào năm 2030
Trong bối cảnh thương mại điện tử B2B đang nhanh chóng trở thành một cấu phần của hoạt động kinh doanh toàn cầu, Việt Nam đã đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử vào năm 2030. Tuy nhiên, việc chuyển một chữ ký từ giấy sang môi trường số là quá trình thay đổi mô hình giao dịch, từ hợp đồng, xác thực, lưu trữ dữ liệu đến logistics, thanh toán và quản trị...
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam làm việc với UBND thành phố Đà Nẵng về triển khai hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2026–2030
- VINASA bước vào nhiệm kỳ mới, hướng tới kiến tạo ngành công nghệ số Việt Nam
- Thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- CMC OpenAI khẳng định năng lực làm chủ công nghệ AI pháp lý tại Diễn đàn Pháp luật ASEAN 2026

Hội nghị “Chuyển đổi số trong giao dịch mua bán hàng hoá: từ từng phần đến toàn diện”. Ảnh: VIAC.
Tại Hội nghị “Chuyển đổi số trong giao dịch mua bán hàng hóa: từ từng phần đến toàn diện” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp tổ chức ngày 19/8/2026, các chuyên gia cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc pháp luật có công nhận giao dịch điện tử hay không, mà ở khả năng doanh nghiệp và các tổ chức trong cùng chuỗi giao dịch có đủ đồng bộ để biến giao dịch số thành một phương thức an toàn, có thể kiểm chứng và thực thi được hay không.
THAY ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CÁCH THỨC GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI
Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách doanh nghiệp mua bán hàng hóa, từ telex, fax, email, các nền tảng thương mại điện tử đến Zalo, Viber, WhatsApp và các hệ thống ký hợp đồng điện tử. Phương thức giao dịch ngày càng dịch chuyển khỏi giấy tờ truyền thống. Theo Luật sư Châu Việt Bắc, Phó Giám đốc VIAC Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, công nghệ không chỉ thay đổi công cụ mà đang tác động trực tiếp tới cấu trúc và cách thức giao dịch của doanh nghiệp.
Ở cấp độ thị trường, quy mô thương mại điện tử B2B toàn cầu trong năm 2024 được ước tính khoảng 28.000 tỷ USD, tương đương 34,4% GDP của hơn 45 nền kinh tế lớn. Trong khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu 80% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử vào năm 2025 và 100% vào năm 2030.
Luật sư Lưu Xuân Vĩnh, Luật sư Điều hành Công ty Luật Asia Legal, Trọng tài viên VIAC, cho biết thực tế hiện nay, phần lớn doanh nghiệp vẫn đang sử dụng hợp đồng điện tử bán phần, tức là quá trình giao kết và thực hiện vẫn có sự kết hợp giữa con người và máy móc. Mô hình này đang đóng vai trò như một bước đệm trước khi doanh nghiệp chuyển sang hợp đồng điện tử toàn phần, nơi các hệ thống máy móc có thể tự thực hiện giao kết mà không cần con người can thiệp trực tiếp.
"Việt Nam hiện có hơn 97,5% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chuyển đổi số toàn diện ngay lập tức là thách thức lớn. Doanh nghiệp cần xây dựng lộ trình từng bước, phù hợp với nguồn lực, đồng thời quản trị các nghĩa vụ về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và an ninh mạng". Luật sư Lưu Xuân Vĩnh, Luật sư Điều hành Công ty Luật Asia Legal, Trọng tài viên VIAC
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, càng tiến sâu vào tự động hóa, doanh nghiệp càng phải trả lời câu hỏi về trách nhiệm. PGS.TS Nguyễn Xuân Minh, Phó Giám đốc Thường trực Đại học Ngoại thương Phân hiệu TP. Hồ Chí Minh, Trọng tài viên VIAC, cho rằng một chuỗi giao dịch có thể được hệ thống tự động xử lý từ đặt hàng, kiểm tra tồn kho, báo giá, xác nhận đơn hàng, thu tiền đến giao hàng, nhưng tại những công đoạn then chốt vẫn cần có con người để kiểm soát, tùy mức độ rủi ro và đặc thù từng doanh nghiệp.
PGS.TS. Nguyễn Xuân Minh, Phó Giám đốc Thường trực Đại học Ngoại thương Phân hiệu TP. Hồ Chí Minh, Trọng tài viên VIAC. Ảnh: VIAC.
Nhấn mạnh một nguyên tắc có thể xem là cốt lõi của quản trị giao dịch số, PGS.TS Nguyễn Xuân Minh cho rằng: "Tự động hóa quy trình không đồng nghĩa với tự động hóa trách nhiệm". Điều này đặc biệt quan trọng khi hệ thống bắt đầu tự đưa ra những hành động có hậu quả pháp lý. Doanh nghiệp phải xác định thông điệp dữ liệu nào là thông điệp chính thức, ai có thẩm quyền phát hành, thời điểm nào được coi là chấp nhận giao dịch và khi nào nghĩa vụ giao hàng được hoàn thành. Đồng thời, phải có phương án xử lý khi dữ liệu hoặc hệ thống xảy ra lỗi.
Luật Giao dịch điện tử 2023 đã thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được giao kết hoặc thực hiện thông qua hệ thống tự động. Việc giao dịch giữa hệ thống thông tin tự động với con người hoặc giữa các hệ thống tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra, can thiệp trực tiếp của con người ở từng hành động. Vấn đề vì thế không phải là có nên tự động hóa hay không, mà là tự động hóa đến mức nào và doanh nghiệp đã đủ khả năng kiểm soát đến đâu.
GIAO DỊCH XUYÊN BIÊN GIỚI, RỦI RO “TOÀN CẦU HÓA”
Nếu giao dịch trong nước đã phát sinh những vấn đề mới, giao dịch thương mại quốc tế còn phức tạp hơn khi nhiều hệ thống pháp luật và nền tảng công nghệ cùng tham gia.
Theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Minh, giao dịch thương mại quốc tế không thể chỉ dựa vào pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp có thể phải đối mặt với luật của Việt Nam, luật của nước đối tác hoặc thậm chí luật của một nước thứ ba, trong khi các hệ thống pháp luật không phải lúc nào cũng đồng bộ.
"Qua gần 10 năm tham gia giải quyết tranh chấp tại VIAC, khoảng 90% hợp đồng không quy định rõ luật áp dụng. Khi tranh chấp xảy ra, Hội đồng Trọng tài phải mất thêm nhiều thời gian để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Đây là một điểm yếu mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể phòng ngừa từ khi ký hợp đồng", PGS.TS. Nguyễn Xuân Minh nhấn mạnh.
Đồng tình, Luật sư Lưu Xuân Vĩnh khuyến nghị trong giao dịch xuyên biên giới, các bên nên đưa vào hợp đồng điều khoản riêng về việc công nhận và sử dụng chữ ký điện tử. Bởi chữ ký điện tử không chỉ thể hiện ý chí đồng ý của chủ thể mà còn đòi hỏi cơ chế xác thực danh tính, bảo đảm người thực hiện thao tác ký đúng là người có thẩm quyền.
Vấn đề này trở nên thực tế khi doanh nghiệp Việt Nam làm việc với các đối tác sử dụng nền tảng quốc tế như DocuSign hay Adobe Sign. Theo Luật sư Vũ Lê Bằng, với giao dịch nội địa, khi các bên sử dụng chữ ký số do tổ chức tại Việt Nam cung cấp, giá trị pháp lý cơ bản đã khá rõ nhờ chứng thư chữ ký số. Nhưng với giao dịch xuyên biên giới, đối tác nước ngoài thường sử dụng các nền tảng quốc tế, trong khi cơ chế công nhận giữa các hệ thống vẫn là vấn đề cần lưu ý.
Một trường hợp thực tế được Luật sư Ngô Quỳnh Anh, Luật sư Điều hành Công ty Luật TNHH ATIM, đưa ra tại hội nghị cho thấy khoảng cách này khá rõ. Doanh nghiệp có thể ký hợp đồng qua DocuSign với đối tác, nhưng khi chuyển sang ngân hàng để thanh toán xuyên biên giới, ngân hàng lại yêu cầu xác minh thẩm quyền người ký, thậm chí yêu cầu các bên ký lại bản giấy. Quy trình này có thể khiến doanh nghiệp mất nhiều tháng để hoàn tất thanh toán.
Theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Minh, một giao dịch thương mại quốc tế liên quan tới nhiều chủ thể: người mua, người bán, vận tải, bảo hiểm, kho bãi, luật sư, trọng tài và cơ quan tố tụng. Mỗi bên có thể vận hành trên những nền tảng pháp lý và kỹ thuật khác nhau. Do đó, doanh nghiệp phải tính đến yêu cầu của toàn bộ chuỗi, thay vì chỉ tối ưu sự thuận tiện cho riêng mình. Và đây cũng là lý do bài toán liên thông dữ liệu đang trở thành điểm nghẽn mới của giao dịch số.
Đáng chú ý, các chuyên gia cho rằng nhiều tranh chấp không bắt nguồn từ bản thân công nghệ mà từ việc quản trị pháp lý của doanh nghiệp không theo kịp công nghệ. Tin nhắn và email có thể được gửi trong vài giây, nhưng thẩm quyền, tính ràng buộc, trách nhiệm và giá trị pháp lý của chúng lại phải được xác định bằng quy trình và thỏa thuận rõ ràng.
Từ đó, doanh nghiệp được khuyến nghị chuẩn hóa khung quản trị hợp đồng điện tử; kiểm soát thẩm quyền và xác thực giao dịch; xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu, chứng cứ điện tử; đồng thời thiết lập quy trình quản trị rủi ro công nghệ, AI và an ninh mạng.
Các chuyên gia cho rằng nhiều tranh chấp không bắt nguồn từ bản thân công nghệ mà từ việc quản trị pháp lý của doanh nghiệp không theo kịp công nghệ. Ảnh: VIAC.
Một điểm khác cũng không thể bỏ qua trong giao dịch thương mại số là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Luật sư Lưu Xuân Vĩnh cho biết năm 2023 có khoảng 30 triệu bản ghi dữ liệu cá nhân bị rò rỉ, cùng khoảng 1.300 GB dữ liệu cá nhân bị giao dịch trái phép; trong các vụ việc này, yếu tố con người chiếm khoảng 32,6%.
Như vậy, càng nhiều dữ liệu được đưa lên môi trường số, yêu cầu quản trị dữ liệu càng trở thành một phần không thể tách rời của quản trị hợp đồng.
Cho rằng Việt Nam đã có hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, nhưng Luật sư Lưu Xuân Vĩnh lưu ý, vẫn cần thêm các văn bản hướng dẫn để hoàn thiện điều kiện cho hợp đồng điện tử toàn phần. Khoảng thời gian này cũng là “bước đệm” để doanh nghiệp thử nghiệm, vận hành và đánh giá trước khi chuyển đổi hoàn toàn.
Cùng quan điểm doanh nghiệp khó có thể chuyển từ 0% lên 100% tự động hóa ngay lập tức, PGS.TS Nguyễn Xuân Minh nhấn mạnh chỉ những khâu đã chắc chắn về công nghệ, pháp lý và quản trị rủi ro mới nên được tự động hóa trước. Quyết định lựa chọn mô hình giao dịch phải căn cứ vào đặc thù hoạt động, năng lực pháp lý, quản trị rủi ro và mức độ tương thích với đối tác.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn chiếm phần lớn trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, chuyển đổi số không nên được hiểu đơn giản là mua một phần mềm hay sử dụng chữ ký điện tử, mà là thiết kế lại quy trình giao dịch theo hướng có thể kiểm soát được rủi ro.


