100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số: Đo bằng kết quả thực tế
100 ngày cao điểm xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số không chỉ là kế hoạch với những nhiệm vụ cần hoàn thành, mà còn là phép thử đối với năng lực biến quyết tâm thành những thay đổi có thể đo đếm. Khi dữ liệu được kết nối, thủ tục được rút ngắn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả, doanh nghiệp và người dân thực sự thuận tiện hơn, khi đó chuyển đổi số mới đi vào thực chất.
![]()
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao đổi tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, ngày 1/7/2026 - Ảnh: chinhphu.vn
Sau hơn một năm tám tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển đổi số quốc gia đã có những bước tiến về thể chế, hạ tầng và nền tảng số. Cùng với đó, quá trình thực hiện cũng cho thấy những điểm nghẽn cần tiếp tục xử lý, từ dữ liệu, hạ tầng, nguồn lực đến nền tảng dùng chung và tổ chức thực hiện.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đưa chuyển đổi số đi vào thực chất.
Cụ thể hóa yêu cầu này, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW xác định 50 nhiệm vụ trọng tâm trong đợt cao điểm 100 ngày. Yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thành đúng hạn, mà phải tạo ra sản phẩm có thể vận hành, có người sử dụng và có kết quả kiểm chứng.
Ngày 29/7, Thủ tướng Lê Minh Hưng ký Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo Chính phủ. Đợt cao điểm được triển khai trong 100 ngày làm việc, tập trung xử lý các nhiệm vụ cấp bách, chậm tiến độ, tạo chuyển biến trong quản trị, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Gỡ điểm nghẽn từ dữ liệu
Dữ liệu là một trong những nội dung trọng tâm của đợt cao điểm. Qua quá trình triển khai, tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả vẫn là vấn đề cần xử lý. Cùng với đó là tình trạng một số hệ thống được đầu tư riêng lẻ, chức năng trùng lặp, gây khó khăn cho liên thông và làm tăng chi phí đầu tư, vận hành.
Ngày 24/6/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1132/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Danh mục gồm 79 nền tảng, trong đó 17 nền tảng dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Các nền tảng phải bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dữ liệu, chỉ số phục vụ giám sát, đo lường, đánh giá hoạt động và hiệu quả sử dụng.
Quyết định cũng quy định, sau khi nền tảng số dùng chung quốc gia được đưa vào vận hành, các cơ quan, tổ chức không đầu tư, xây dựng, mua sắm, thuê dịch vụ hoặc mở rộng các hệ thống có chức năng, mục tiêu và phạm vi sử dụng tương tự, trừ trường hợp đặc thù.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng thêm hệ thống, mà còn tổ chức lại cách các hệ thống kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu.
Tại Ga Hà Nội, hệ thống kiểm soát vé bằng sinh trắc học được đưa vào thử nghiệm, kết nối với hệ thống bán vé điện tử và cơ sở dữ liệu căn cước công dân.
Trong giai đoạn thử nghiệm từ ngày 1 đến ngày 10/8/2025, tốc độ soát vé trung bình đạt 3-5 giây/hành khách, nhanh hơn khoảng 50% so với quét mã QR; tỉ lệ nhận diện thành công trên 98% và hơn 92% hành khách được khảo sát đánh giá thuận tiện hoặc rất thuận tiện. Từ ngày 19/8/2025, hệ thống đã chính thức được vận hành tại Ga Hà Nội.
Tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, từ tháng 7/2026, kiosk sinh trắc học tại nhà ga T1 cho phép hành khách đi các chuyến bay nội địa hoàn tất xác thực trong khoảng 10 giây với 3 thao tác: Quét thẻ lên máy bay, quét căn cước công dân gắn chip và nhận diện khuôn mặt. Sau khi xác thực, dữ liệu sinh trắc học được đồng bộ trên hệ thống để hành khách sử dụng các làn tự động tại khu vực kiểm tra an ninh và cửa lên máy bay. Mỗi ngày, hệ thống phục vụ thành công khoảng 2.000-3.000 lượt hành khách.
Những trường hợp này cho thấy dữ liệu định danh và sinh trắc học đã được đưa vào các quy trình nghiệp vụ cụ thể. Với hành khách, thay đổi thể hiện qua thời gian và số bước thực hiện; với đơn vị vận hành, dữ liệu được sử dụng trong quá trình kiểm soát và phục vụ hành khách.
Qua đó, hiệu quả của dữ liệu được thể hiện không chỉ ở khả năng kết nối, mà còn ở việc dữ liệu được đưa vào một quy trình cụ thể và tạo ra thay đổi có thể đo lường.
Hệ thống kiosk sinh trắc học góp phần giảm áp lực tại khu vực làm thủ tục và nâng cao tốc độ thông quan hành khách tại sân bay Nội Bài - Ảnh: Phan Công
Dịch vụ công phải thể hiện bằng thời gian, chi phí
Trong lĩnh vực dịch vụ công, hiệu quả chuyển đổi số có thể được nhìn nhận qua thời gian giải quyết thủ tục, chi phí tuân thủ và mức độ thuận tiện đối với người dân, doanh nghiệp.
Một số thủ tục đã được rút ngắn đáng kể thời gian thực hiện. Nhóm thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi giảm từ 21 ngày xuống còn 4 ngày. Nhóm thủ tục đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, trợ cấp mai táng, hỗ trợ chi phí mai táng giảm từ 25 ngày xuống còn 10 ngày.
Yêu cầu đối với dịch vụ công trực tuyến vì vậy không chỉ dừng ở việc đưa thủ tục lên môi trường số. Một dịch vụ chỉ thực sự thuận tiện khi quy trình được đơn giản hóa, dữ liệu được khai thác để giảm thao tác và thời gian xử lý được rút ngắn.
Thực tiễn tại địa phương, ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, Thành phố đang triển khai Chiến dịch tăng tốc chuyển đổi số trong 100 ngày. Một trong những nội dung được tập trung là nhóm 5 thủ tục giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất.
Với tần suất khoảng 300.000 hồ sơ mỗi năm, việc đưa nhóm thủ tục này lên quy trình trực tuyến toàn trình hướng tới rút ngắn thời gian thực hiện, giảm chi phí tuân thủ đối với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.
Sở Khoa học và Công nghệ dự báo, khi triển khai đồng loạt trên toàn Thành phố, giải pháp này có thể giúp tiết kiệm khoảng 651,57 tỷ đồng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính mỗi năm.
Cũng theo ông Cù Ngọc Trang, Hà Nội xác định dữ liệu là tài nguyên quan trọng, nhưng hiện trạng cho thấy dữ liệu vẫn phân tán ở nhiều hệ thống và định dạng khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở, phải thao tác trùng lặp trên nhiều phần mềm.
Để giải quyết vấn đề này, Thành phố đã triển khai kế hoạch di trú và chuẩn hóa dữ liệu về Kho dữ liệu dùng chung. Theo lộ trình, đến hết năm 2026, Thành phố dự kiến hoàn thiện 93 nhóm dữ liệu.
Ở khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hà Nội đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 10.000 hộ kinh doanh và 100 làng nghề ứng dụng các nền tảng số trong chiến dịch 100 ngày.
Các mục tiêu này được đặt cùng với yêu cầu đưa dữ liệu, nền tảng và dịch vụ vào hoạt động thực tế, thay vì chỉ hoàn thành việc xây dựng hệ thống.
Người dân có thể thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến qua VNeID - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Giang
Nguồn lực tăng, yêu cầu hiệu quả cũng cao hơn
Theo ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN), từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều văn bản quan trọng được ban hành như Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Bộ KH&CN cũng ban hành các quy định về quản lý đầu tư, quản lý chất lượng dự án chuyển đổi số và bộ tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng của thủ tục hành chính, tạo cơ sở chuẩn hóa quá trình triển khai và đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, nguồn lực cho chuyển đổi số được tăng cường. Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số và các cơ chế liên quan đến đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ, thử nghiệm trong chuyển đổi số. Chính sách dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số cũng tạo thêm nguồn lực cho các nhiệm vụ trong lĩnh vực này.
Nguồn lực được bố trí lớn hơn cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về hiệu quả sử dụng. Một hệ thống được đầu tư nhưng ít người sử dụng, một cơ sở dữ liệu không được cập nhật hoặc một nền tảng có chức năng trùng lặp với hệ thống khác sẽ khó phát huy giá trị của khoản đầu tư.
Việc xác định 79 nền tảng số dùng chung quốc gia là một trong những giải pháp nhằm hạn chế đầu tư trùng lặp, tăng khả năng kết nối và khai thác chung. Kế hoạch 100 ngày đồng thời tập trung xử lý những nhiệm vụ đã được bố trí nguồn lực nhưng triển khai hoặc giải ngân chậm.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương, hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý về chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện. Vấn đề đặt ra hiện nay là tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả để các chính sách đi vào cuộc sống.
Trên cơ sở Kế hoạch hành động 100 ngày của Ban Chỉ đạo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai; đẩy nhanh đưa các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung vào vận hành, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.
“Mục tiêu cuối cùng là đưa chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Đo chuyển đổi số bằng kết quả
Từ đường sắt, hàng không đến dịch vụ công và hoạt động của địa phương, hiệu quả chuyển đổi số có thể được thể hiện qua những chỉ số cụ thể.
Ở đường sắt và hàng không là thời gian kiểm soát, xác thực và số bước hành khách phải thực hiện. Ở dịch vụ công là thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ. Ở địa phương là số lượng dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối, số người sử dụng và số quy trình được thay đổi.
Các chỉ số này giúp chuyển trọng tâm đánh giá từ việc đã triển khai hay chưa sang triển khai có tạo ra thay đổi hay không.
Đây cũng là yêu cầu của Kế hoạch 100 ngày: Quản trị theo sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng thực tế và giá trị mang lại, thay vì chỉ dựa vào tiến độ hoàn thành nhiệm vụ.
Vì vậy, khi đợt cao điểm kết thúc, tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ sẽ là một chỉ số, nhưng cần được đặt cùng với các kết quả thực tế: Sản phẩm đã được đưa vào vận hành hay chưa; dữ liệu có được kết nối, khai thác và tái sử dụng hay không; có bao nhiêu người sử dụng; thời gian và chi phí thực hiện công việc có giảm hay không.
100 ngày là một giai đoạn cụ thể trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Kết quả của giai đoạn này sẽ được thể hiện qua những sản phẩm được đưa vào sử dụng, dữ liệu được kết nối và những quy trình được rút ngắn, thay đổi trên thực tế.
