Bình dân học vụ số: Đa dạng đến đâu, và cần làm gì để phong trào đi vào thực chất? Hạ tầng chính sách, quy mô thực tế và những điểm cần giải quyết
Sau hơn một năm chính thức phát động theo Kế hoạch 01-KH/BCĐTW (tháng 3/2025), phong trào "Bình dân học vụ số" đã tạo nên làn sóng phổ cập công nghệ quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, bức tranh thực tế đến giữa năm 2026 cho thấy, khoảng cách số tại Việt Nam đã chuyển dịch từ sở hữu thiết bị sang trình độ năng lực thực chất. Để phong trào chuyển mình từ một chiến dịch thi đua thành hạ tầng năng lực số bền vững, nút thắt cốt lõi cần tháo gỡ không phải là nghĩ ra thêm các mô hình mới, mà là chuẩn hóa khung năng lực, đo lường thực chất và kết nối dữ liệu liên thông.

Ảnh minh hoạ.
Về chất lượng/nội dung: chưa có quy chuẩn chung thống nhất
Ý tưởng phát động một chiến dịch "xóa mù số" toàn dân được khởi nguồn từ chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm vào tháng 11/2024, gắn liền với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia [1]. Ngay sau đó, một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh đã được thiết lập cấp tốc trong chưa đầy 12 tháng nhằm tạo hành lang triển khai:
- Ngày 18/10/2024: Đà Nẵng đi trước một bước khi ban hành Quyết định 2242/QĐ-UBND lập Khung năng lực số công dân dựa trên chuẩn EU DigComp (gồm 5 lĩnh vực, 17 năng lực thành phần và 173 tiêu chí phân cấp).
- Ngày 21/03/2025: Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Kế hoạch 01-KH/BCĐTW — văn bản khung điều phối toàn bộ chiến dịch.
- Đầu năm 2025: Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT định hình khung năng lực số cho người học.
- Ngày 29/04/2025: Bộ KH&CN ban hành Quyết định 757/QĐ-BKHCN lập Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản cấp quốc gia.
- Tháng 6/2025 – Tháng 3/2026: Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện Chương trình phổ cập (QĐ 1638) và phê duyệt Bộ học liệu chuẩn hóa cùng ngân hàng câu hỏi (QĐ 522/QĐ-BGDĐT).
Mặc dù QĐ 757/QĐ-BKHCN đã ra đời, nhưng soi kỹ bản chất kỹ thuật sẽ thấy một bất cập lớn: Khung quốc gia hiện tại dừng lại ở mô hình/tiêu chí "đạt / không đạt" ở mức phổ cập tối thiểu. Nó thiếu cấu trúc đa cấp độ thông thạo (như 8 mức phân tầng từ cơ bản đến chuyên sâu của Đà Nẵng hay EU DigComp). Hệ quả là chúng ta có một tiêu chuẩn định tính để soạn tài liệu, nhưng chưa có công cụ định lượng để đo lường sự tiến bộ năng lực của công dân theo thời gian như cách mà Đà Nẵng đã áp dụng [2]. Nói cách khác: Việt Nam có khung, nhưng đó là khung "đạt/chưa đạt" ở mức phổ cập tối thiểu, không phải công cụ đo tiến bộ năng lực theo thời gian như khung Đà Nẵng hay DigComp gốc.

Ảnh minh hoạ.
Về quy mô: rộng nhưng chưa đồng đều
Điểm mạnh nhất của phong trào tính đến nay là việc phân nhóm đối tượng khá rộng, có thể tổng hợp thành 5 nhóm chính với các mô hình và đặc điểm đang được các địa phương triển khai gồm:
|
Nhóm đối tượng |
Mô hình tiêu biểu |
Đặc điểm nội dung |
|
Nông dân, tiểu thương nông thôn |
"Chợ số – Nông thôn số" (mô hình 4T: Tiểu thương – TMĐT – Thanh toán không tiền mặt – Tiết kiệm số) |
Gắn kỹ năng số với sinh kế cụ thể |
|
Người cao tuổi |
Lớp "cầm tay chỉ việc", hướng dẫn dịch vụ công, thanh toán số, an toàn mạng |
Thao tác trực tiếp trên thiết bị cá nhân, lặp lại nhiều lần |
|
Vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số |
Tổ công nghệ số cộng đồng ("đi từng ngõ, gõ từng nhà") |
Ưu tiên hướng dẫn trực tiếp, không phụ thuộc hạ tầng mạng tốt |
|
Người lao động, doanh nghiệp/HTX |
Đào tạo kỹ năng số gắn năng suất lao động |
Gắn với chỉ tiêu 100% lao động trong DN/HTX có kỹ năng số cơ bản |
|
Toàn dân trưởng thành (đại trà) |
Nền tảng "Mỗi công dân – Một danh tính số", xác thực qua VNeID |
Chuẩn hóa, đo lường được, gắn định danh điện tử |
Sự đa dạng này phản ánh đúng tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau" mà Trung ương đặt ra. Tuy vậy, có một khoảng trống rõ: hầu như chưa có mô hình phân hóa theo trình độ số nền (người chưa từng dùng smartphone khác hoàn toàn với người đã dùng mạng xã hội nhưng chưa biết dịch vụ công trực tuyến). Đa số tài liệu tuyên truyền hiện nay là bộ nội dung dùng chung, chỉ khác ở người hướng dẫn và địa bàn, chứ chưa thực sự khác ở giáo trình.
|
Kênh triển khai |
Kết quả ghi nhận |
Thời điểm |
|
Nền tảng "Bình dân học vụ số" (Bộ Công an chủ trì, ra mắt tại ĐH Bách Khoa Hà Nội) |
Thiết kế phục vụ 40.000 người học đồng thời; đào tạo 200.000 lượt CBCCVC, lực lượng vũ trang tại lễ ra mắt [3] → mở rộng lên 87 khóa học hoàn thiện, 1.443.384 lượt học viên (tăng 829.381 so với tháng 2/2026) [4] |
26/3/2025 → cuối 3/2026 |
|
Nền tảng MobiEdu + One Touch (đã vận hành trước đó) |
Hơn 1,2 triệu lượt CBCCVC/NLĐ được đào tạo; hơn 40 triệu lượt người được phổ cập kỹ năng số miễn phí [5] |
Tính đến 3/2025 |
|
Mạng lưới Đoàn Thanh niên toàn quốc |
13.124 đội hình "Bình dân học vụ số", huy động 441.617 đoàn viên trực tiếp hỗ trợ gần 2,5 triệu người dân |
Sau hơn 1 năm triển khai (tính đến 7/2026) [6] |

Ảnh minh hoạ.
Qua dữ liệu thống kê, phần lớn được báo cáo theo đơn vị "lượt" (lượt học viên, lượt truy cập, lượt người được phổ cập) chứ không phải số người hoàn thành chương trình. Một người có thể được tính nhiều lần nếu tham gia nhiều khóa hoặc nhiều đợt hướng dẫn. Đây là hạn chế cố hữu của mọi hệ thống báo cáo phong trào ở Việt Nam, không riêng phong trào này, nhưng lại đặc biệt quan trọng ở đây vì đích cuối cùng là năng lực cá nhân, không phải lượt tiếp cận. Điều này càng có ý nghĩa khi đặt cạnh khảo sát mức sống dân cư năm 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính): tỷ lệ người dân dùng điện thoại di động đạt 87,3% (trong đó 80,3% là smartphone), nhưng kỹ năng CNTT của người dân chủ yếu vẫn dừng ở mức cơ bản - tỷ lệ đạt kỹ năng nâng cao chỉ chiếm 21,5% [7]. Đây là con số quan trọng nhất trong toàn bộ bức tranh: khoảng cách số tại Việt Nam hiện nay không còn nằm ở việc có thiết bị hay không (đã gần bão hòa), mà nằm ở việc dùng thiết bị đó thành thạo đến đâu - và đó chính xác là thứ các chỉ tiêu "lượt tham gia" hay "% cài đặt VNeID" chưa đo được.
Về nhu cầu: “phải làm” vẫn chiếm đa số so với “muốn học”
Nhu cầu số của người dân, xét thực tế, chia làm ba tầng:
- (1) bắt buộc: nhu cầu hành chính bắt buộc (VNeID, dịch vụ công trực tuyến);
- (2) sinh kế: bán hàng online, thanh toán số…;
- (3) an toàn: nhận diện lừa đảo, bảo vệ dữ liệu cá nhân….
Quan sát từ các kế hoạch triển khai tại một số địa phương như Đắk Lắk, Đồng Nai, Phú Thọ, Cần Thơ… cho thấy phong trào hiện đang dồn trọng tâm rất rõ vào nhu cầu (1) - cài đặt VNeID, xác thực định danh - vì đây là chỉ tiêu dễ đo, dễ báo cáo (ví dụ chỉ tiêu "80% người trưởng thành được xác nhận phổ cập tri thức trên nền tảng VNeID"). Hệ quả là nhu cầu (2) và (3) - vốn mới là động lực khiến người dân tự nguyện “muốn học” - lại được coi như nội dung phụ. Đây là điểm mà báo chí và các nhà hoạch định chính sách cần lưu ý: một phong trào lấy KPI hành chính làm thước đo dễ tạo cảm giác "phải học vì bị yêu cầu" hơn là "học vì thấy ích lợi", điều mà chính người trong cuộc đã cảnh báo là nguy cơ khiến phong trào được xem như "hình thức, thậm chí bị biến dạng."
Về hình thức: trăm hoa đua nở, đường ai nấy đi
Đây là lĩnh vực có nhiều điểm sáng nhất về mặt truyền thông với hàng loạt mô hình tên gọi bắt tai như "Gia đình số", "Đại sứ số", "Ngày hội cuối tuần số", "Tổ bình dân học vụ số", "Mùa hè số" (Đồng Nai), nhóm Zalo kết nối nhà trường - gia đình... Về bản chất hình thức, có thể quy về 3 trục:
-
Trực tiếp, cầm tay chỉ việc: hiệu quả nhất với người cao tuổi và vùng khó khăn, nhưng tốn nhân lực, khó nhân rộng nhanh.
-
Trực tuyến đại trà: các nền tảng do trung ương triển khai - One Touch, MobiEdu, nền tảng "Bình dân học vụ số" (binhdanhocvuso.gov.vn) - có ưu thế phủ rộng, ứng dụng AI cá nhân hóa lộ trình học, nhưng đòi hỏi người học đã có kỹ năng số tối thiểu để tự truy cập, nên hiện chưa phải công cụ tốt cho nhóm "mù số" hoàn toàn.
-
Qua lực lượng tại chỗ: công an, đoàn viên thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng đóng vai trò cầu nối - đây là hình thức có độ phủ nhanh nhất nhờ mạng lưới sẵn có, nhưng phụ thuộc nhiều vào năng lực và sự nhiệt tình của từng cá nhân, khó chuẩn hóa chất lượng.
Một bác nông dân học xong ở Tổ công nghệ cộng đồng thì hệ thống online lại không ghi nhận…v.v. Vấn đề là ba trục này hiện chạy song song, thiếu cơ chế kết nối dữ liệu học tập giữa chúng - một người đã học trực tiếp ở tổ công nghệ cộng đồng thường không được ghi nhận trên nền tảng trực tuyến…, nên khó tổng hợp thành bức tranh năng lực số quốc gia thống nhất.
Do đó, ở khía cạnh tổng thể, xét một cách khách quan, có thể thấy rõ 4 điểm nổi bật được cho là hạn chế/điểm nghẽn thực chất, gồm:
- Dữ liệu học tập phân mảnh giữa các nền tảng;
- Khung năng lực chưa phân tầng theo mức thông thạo (ranh giới mờ giữa đat/không đạt);
- Nguy cơ hình thức, trăm hoa đua nở, chạy theo thành tích;
- Khoảng cách giữa phổ cập thiết bị và năng lực thực chất.
Nói một cách ngắn gọn, phong trào đã thắng lớn ở khâu khơi dậy khí thế. Nhưng muốn biến khí thế đó thành hạ tầng năng lực bền vững, tôi cho rằng chúng ta cần làm ngay 5 việc:
- Gom dữ liệu về một mối: Dùng ngay tài khoản VNeID làm gốc, tích hợp toàn bộ kết quả học trực tiếp lẫn trực tuyến thành một Hồ sơ năng lực số cá nhân;
- Nâng cấp thước đo: Chuyển Khung 757 từ kiểu "Đạt/Không đạt" sang phân cấp rõ ràng, lấy khung Đà Nẵng (2242/QĐ-UBND) làm tham chiếu/tham khảo, thay vì để mỗi tỉnh tự phát triển khung riêng;
- Đo thực chất, bỏ đếm "lượt": Trong các báo cáo, hãy tính số người thực sự hoàn thành và làm được việc, thay vì đếm số lượt truy cập hay số lượt phát động.
- Dạy theo trình độ, không dạy theo tuổi: không gộp chung một cụ già chưa bao giờ chạm vào smartphone với một người đã dùng Zalo thạo vào cùng một lớp. Giáo trình phải phân tầng theo kỹ năng nền.
- Thể chế hóa cơ chế giám sát độc lập với nội dung "hình thức hóa" - không chỉ dừng ở cảnh báo trong diễn văn, mà đưa thành tiêu chí chấm điểm thi đua cụ thể (ví dụ: tỷ lệ tái tham gia học, tỷ lệ hoàn thành/bỏ dở khóa học) thay vì chỉ đếm số lượt phát động, số mô hình được đặt tên.
Xóa mù chữ ngày xưa hay xóa mù số ngày nay cũng vậy, cốt lõi vẫn là giúp người dân có thêm công cụ để sống tốt hơn, tự do hơn trong khuôn khổ xã hội. Đã đến lúc chúng ta tạm gác lại những tên gọi mỹ miều, những con số "triệu lượt" hoa mỹ để bắt tay vào làm chuẩn hóa: chuẩn hóa khung đo, liên thông dữ liệu và dạy đúng thứ dân cần. Khi đó, "Bình dân học vụ số" mới thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh cho quốc gia.
Nguồn tham khảo
1. Báo điện tử Chính phủ: Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt đại diện nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 - baochinhphu.vn
2. Lê Trung Nghĩa (2024), Phong trào Bình dân học vụ số: Mục tiêu, đối tượng, nội dung, nguồn lực, phương thức tổ chức thực hiện, Giáo dục Mở/AVU&C, DOI: 10.5281/zenodo.14515376 - giaoducmo.avnuc.vn
3. Báo điện tử Chính phủ: Thủ tướng phát động phong trào 'Bình dân học vụ số' toàn dân, 26/3/2025 - baochinhphu.vn
4. VietnamNet: Phổ cập tri thức chuyển đổi số cho người dân qua nền tảng "Bình dân học vụ số" - vietnamnet.vn
5. Cổng TTĐT Chính phủ (baochinhphu.vn) và binhdanhocvuso.moc.gov.vn: Ra mắt nền tảng Bình dân học vụ số
6. Báo Tiền Phong: Hơn 13.000 đội hình đưa 'Bình dân học vụ số' đến gần với người dân - tienphong.vn
7. An Ninh Thủ Đô / VietnamNet, dẫn khảo sát mức sống dân cư 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính): Hơn 80% dân số Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh - anninhthudo.vn
Th.S Nguyễn Đức Anh
Founder Học viện STEAM - STEAM Academy
