Đề xuất giám sát chặt tiền ký quỹ để bảo vệ quyền lợi người lao động
Cho thuê lại lao động là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro về tiền lương, bảo hiểm xã hội, do đó, Sở Nội vụ Bắc Ninh nhấn mạnh cần khai thác thực chất cơ chế tiền ký quỹ để bảo vệ người lao động. Khi phát hiện doanh nghiệp vi phạm quyền lợi của người lao động thuê lại, Sở Nội vụ cần theo dõi chặt chẽ các mốc thời gian xử lý tiền ký quỹ…

Doanh nghiệp tuyển dụng lao động. Ảnh: Nhật Dương.
Cho thuê lại lao động là phương thức sử dụng lao động có tính linh hoạt cao, nhưng đồng thời là quan hệ lao động đặc thù với sự tham gia của ba chủ thể: doanh nghiệp cho thuê lại lao động, bên thuê lại lao động và người lao động thuê lại.
THÁCH THỨC KHI CHUYỂN SANG HẬU KIỂM VỚI DOANH NGHIỆP CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
Là tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và nhu cầu lao động biến động theo đơn hàng, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết hoạt động này góp phần hỗ trợ doanh nghiệp bổ sung nhân lực trong từng thời điểm.
Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro về tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời hạn cho thuê lại, công việc được phép cho thuê lại và tình trạng lợi dụng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng khoán để che giấu bản chất cho thuê lại lao động.
Kết luận số 18-KL/TW đã yêu cầu chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Cụ thể hóa chủ trương này, Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027, đã quy định không thực hiện các thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
Cơ chế quản lý được chuyển sang yêu cầu doanh nghiệp ký quỹ 2 tỷ đồng, thông báo hoạt động và chấm dứt hoạt động, thực hiện báo cáo hằng quý. Đồng thời, tăng trách nhiệm công khai, theo dõi, kiểm tra và giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh cho rằng, việc chuyển sang hậu kiểm là cần thiết, nhưng thời gian đầu sẽ có những khó khăn, thách thức lớn.
Thứ nhất, khả năng sàng lọc doanh nghiệp ngay từ đầu giảm xuống. Khi không còn quy trình thẩm định hồ sơ cấp giấy phép, trách nhiệm phát hiện doanh nghiệp không đủ năng lực, kê khai không chính xác, hoặc không duy trì điều kiện hoạt động được chuyển sang giai đoạn hậu kiểm. Nếu dữ liệu không đầy đủ hoặc phản ứng chậm, vi phạm có thể chỉ được phát hiện sau khi đã ảnh hưởng đến nhiều người lao động.
Thứ hai, hoạt động cho thuê lại lao động có tính liên tỉnh rất cao. Doanh nghiệp có thể đặt trụ sở chính ở một địa phương, có chi nhánh ở địa phương khác và đưa lao động đến làm việc tại nhiều tỉnh, thành phố.
Đối với Bắc Ninh, thực tế quản lý không chỉ gồm doanh nghiệp có trụ sở trên địa bàn, mà còn gồm doanh nghiệp từ địa phương khác đưa lao động đến các khu công nghiệp. Nếu chỉ quản lý theo nơi đặt trụ sở chính sẽ dễ bỏ sót hoạt động thực tế.
Thứ ba, ranh giới giữa cho thuê lại lao động với cung ứng dịch vụ, thuê khoán công việc hoặc gia công trong nhiều trường hợp không rõ ràng. Có hợp đồng mang tên “dịch vụ”, “khoán việc” nhưng người lao động lại làm việc theo sự quản lý, điều hành trực tiếp của doanh nghiệp sử dụng.
Thứ tư, dữ liệu phục vụ quản lý còn phân tán. Thông tin về đăng ký doanh nghiệp, ký quỹ, bảo hiểm xã hội, biến động lao động, khiếu nại, tranh chấp, tai nạn lao động và xử lý vi phạm đang nằm ở nhiều cơ quan khác nhau. Thứ năm, khuôn khổ pháp lý đang trong giai đoạn chuyển tiếp.
HẬU KIỂM DOANH NGHIỆP THEO MỨC ĐỘ RỦI RO
Để việc quản lý hoạt động cho thuê lại lao động hiệu quả, Sở Nội vụ Bắc Ninh kiến nghị cần thiết lập cơ sở dữ liệu quản lý theo nguyên tắc “một doanh nghiệp - một hồ sơ số - một mã định danh”.

Người lao động làm việc trong ngành dệt may. Ảnh: Nhật Dương.
Trước mắt, mỗi địa phương cần quản lý đầy đủ ba nhóm: doanh nghiệp có trụ sở chính trên địa bàn; doanh nghiệp có chi nhánh, văn phòng đại diện trên địa bàn; và doanh nghiệp từ địa phương khác đến hoạt động cho thuê lại lao động.
Hồ sơ số của doanh nghiệp cần được gắn với mã số doanh nghiệp và cập nhật liên tục các thông tin về thông báo hoạt động, tiền ký quỹ, báo cáo quý, số lao động cho thuê lại, bên thuê lại lao động, công việc, thời hạn cho thuê lại, tình hình tham gia bảo hiểm xã hội, sự cố, khiếu nại và kết quả xử lý.
Cùng với đó, cần tổ chức hậu kiểm theo mức độ rủi ro, không kiểm tra dàn trải. Có thể phân doanh nghiệp thành ba nhóm.
Nhóm rủi ro thấp là doanh nghiệp thực hiện đầy đủ thông báo, báo cáo đúng hạn, dữ liệu phù hợp với thông tin của cơ quan Bảo hiểm xã hội và không có phản ánh. Nhóm này chủ yếu được theo dõi từ xa.
Nhóm rủi ro trung bình là doanh nghiệp báo cáo chậm, số liệu có chênh lệch hoặc có dấu hiệu bất thường. Với nhóm này, trước hết yêu cầu giải trình, cập nhật và kiểm tra hồ sơ.
Nhóm rủi ro cao là doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội kéo dài, nợ lương, có nhiều khiếu nại, số lao động tăng giảm bất thường, có dấu hiệu cho thuê ngoài danh mục, vượt quá thời hạn 12 tháng, hoặc che giấu hoạt động cho thuê lại lao động dưới hình thức hợp đồng dịch vụ. Nhóm này cần được ưu tiên kiểm tra chuyên ngành theo quy định.
Bên cạnh đó, cần khai thác thực chất cơ chế tiền ký quỹ để bảo vệ người lao động. Tiền ký quỹ 2 tỷ đồng là công cụ bảo đảm quan trọng của mô hình hậu kiểm. Khi phát hiện doanh nghiệp chậm thực hiện nghĩa vụ về tiền lương, bảo hiểm xã hội hoặc các quyền lợi khác của người lao động thuê lại, Sở Nội vụ cần theo dõi chặt chẽ các mốc thời gian xử lý theo quy định.
Khi đã hết 60 ngày kể từ ngày đến hạn mà doanh nghiệp chưa thanh toán, Sở Nội vụ cần chủ động trao đổi với cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ quan liên quan, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ. Nếu sau 10 ngày, doanh nghiệp vẫn không thực hiện và không đề nghị rút tiền ký quỹ để thanh toán, cần kịp thời trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trích tiền ký quỹ theo quy định.
